Cơm ký

Cuộc sống là một chuỗi dài những toan tính, mà đôi khi cho đi mới là cách nhận lại nhiều nhất


Hồi 1:
Đường Thanh Sơn tiểu nữ Mây phóng cháo
Tới Suối Giàng giai tân Quân bị vây
Ngày Thìn, tháng 9 Tân Mão, có kẻ sĩ Thành Nam họ Trần tên gọi Đăng Tuấn nhân chơi Suối Giàng định ngắm mấy cây chè cổ thụ mải lối mới lạc nhầm vào vào bếp của trường Tiểu học Suối Giàng.
Về sau mới biên ra rằng: “Chỗ tôi tối có mấy bó rau cải bé tẹo, mà lại đã úa vàng một nửa. Không hiểu canh nấu với gì, vì mắm muối giấu ở đâu, chứ không có trong bếp. Hỏi: Sao ít rau thế? – Ừ, không đủ đâu, phải mua thêm nữa đấy. Thế có thịt cá ăn bao giờ không?- Không có đâu, bao giờ bố mẹ đóng thêm tiền thì mua cho ăn một bữa có thịt. Một nồi cơm (hy vọng là đủ) và một nồi canh rau cải (gồm xô nước vừa được xách lên, mấy bó rau, chắc ít muối, mắm, dầu mỡ cho vào nữa). Đó là bữa ăn trưa cho 80 mầm non của đất nước vào ngày 22 tháng 9 năm 2011. Tức là khi đất nước đã bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21. Là sau một năm tưng bừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, là năm đầu của nhiệm kỳ Đại hội 11…vv..và ..vv..
Thế là quên khuấy ý định ngắm mấy cây chè cổ thụ, lúc về cũng chẳng nhớ mục đích của việc phóng xe lên đỉnh núi Suối Giàng. Sau này nhân đó mới nói lớn rằng: Chúng ta có quá nhiều đất nước trong một đất nước, cho nên đành phải chọn một để yêu thôi.
Trần Đăng Tuấn về Thăng Long lập nên một quán gọi là “Men lá rượu ngô”, tự nhận mình là “Chủ gánh hàng xén” ngày ngày lên face post hình, hành nghề cái bang, tháng tháng miệt mài trốn phu nhân mang tiền hàng đi miền núi. Quay đi ngoảnh lại đã đi vùng cao được mấy chục chuyến.
Chuyến ấy, Chủ gánh khởi xướng đi Tây Bắc, mang theo hai chục thành viên với một con poster già lụ khụ lặc lè hàng hóa hẹn nhau đầu Thăng Long đại lộ từ lúc gà còn chưa kịp gáy sáng. Kẻ cầm cương con poster, đáng đem nấu thắng cố- gọi là Thượng Dương Cường bận một chiếc cá sấu màu cháo lòng đá đá vào con nghẽo môi bĩu ra thừa đến nửa lạng thịt.
- Ngựa hay đâu bằng người cưỡi giỏi. Sao còn không thêm xăng, đổ nước còn đứng đó mà bĩu môi.
Cường ngoảnh lại thì thấy người nói dáng người dong dỏng, mũ lăm lăm trên đầu, miệng ngoằn nghèo một cặp ria dáng vẻ “phản diện”. Người này kinh khỉnh quay đi, miệng ngậm lệch điếu thuốc xì khói như bát hương. Thấy dung mạo dị thường, Cường vội vàng cung tay bái:
- Xin hỏi các hạ là ai
Người này nghe thấy vẫn khoanh tay trước ngực trỏ mũi giày đá sỏi bên đường dương dương tự đại đáp :
- Tại hạ tên Quân, trước đệm chữ Quốc.
Cường nhìn kỹ lại chợt à lên một tiếng, đáp :
- Ra các hạ là kẻ cướp trong Cảnh sát hình sự. Tống tiền, bảo kê, đâm thuê chém mướn, xúi bẩy người trên. Không gì không đóng. Quốc Quân chính thị là các hạ !
Người tên Quốc Quân cười hô hô lên rằng :
- Chính tại hạ đây. Hô hô. Cảm ơn cao nhân đã quá khen.
Bấy giờ thò ra một cánh tay ngọc kéo áo rồi một giọng oanh thỏ thẻ cất lên :
- Lên đường nào, các vị sư huynh.
Hai người nhìn ra, chỉ thấy đó là một bạch y thiếu nữ đang chúm chím cười. Cường thấy vậy lập tức đổi giọng lả giả :
- Xin cho biết cao danh quý tánh
Bạch y thiếu nữ đáp: Tiểu nữ tên Nguyễn Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến, tự là Luyen Tran. Thượng huynh cứ gọi tiểu nữ là Cô giáo Luyến nhưng đừng nhầm thành Cô giáo Thảo.
Tại sao lại gọi là “Cô giáo Luyến”. Đó là chuyện sẽ nói về sau.
Bấy giờ trời lất phất mưa. Đường xá trơn nhẹp. Càng lên cao càng lắc. Dẫn đầu đoàn là một viên đại tướng tên Hùng, tự Hung Tu Cam. Hùng nguyên là một thương nhân qua lại nhẵn lối đường Tây Bắc, vì phục một chữ nhân mà « kết nghĩa cơm thịt » với Trần Đăng Tuấn. Hùng cưỡi một con chiến mã Pajero buôn sang từ xứ Phù Tang. Đó là loại thiên lý mã lốp căng, máy đầm, gầm thoáng có thể vượt suối băng rừng ngày đi ngàn dặm. Người ngựa như một vệt xám băng băng vượt lên phía trước.
Được nửa ngày đường đến Thanh Sơn phủ Phú Thọ, con chiến mã của Hung Tu Cam bỗng dưng ặc ặc lên mấy tiếng rồi nằm im thít bên đường. Chúng lo lắng dừng hết lại xúm vào xem xét. Chỉ thấy viên đại tướng áo… hồng lảo đảo nhảy từ trên ngựa xuống, người ngợm bê bết… cháo toát ra một thứ mùi không hề tao nhã.
- Trúng phải chất kịch độc rồi- Có ai đó la to
Chúng bấy giờ lập tức dàn trận, đứng thành một đường tròn mắt chăm chú quan sát rừng rậm bốn bề phòng kẻ lén phóng ám khí.
Đường núi tịch không một bóng người. Rừng vẫn xanh thẫm một màu, ríu ran tiếng chim. Nước dưới khe chảy róc rách.
Sau mình ngựa bỗng nhảy xuống một hắc y thiếu nữ. Chỉ thấy đó là một tiểu nữ mặt hoa da phấn tóc buộc phía sau, chân tả mang hài, chân hữu mang dép, tay cầm một túi cháo thực lớn và miệng vẫn không ngừng phóng cháo.
Chúng bấy giờ mới thở phào. Ra là hắc y thiếu nữ phóng cháo vào người viên đại tướng.
Tới Suối Giàng thì trời đã xế trưa. Ánh dương như những tia lửa nhỏ rát rạt trên da. Những người sơn tràng bình dị và hồn hậu ở Suối Giàng đón gánh hàng xén với những ánh mắt thân thiết. Hàng hóa từ con ngựa già được chuyển xuống chất đống trong sân. Hắc y thiếu nữ bấy giờ đã hết phun cháo tíu tít cùng với một hồng y thiếu nữ chia quà cho đám học trò nhỏ. Chuyến này Gánh hàng xén tiếp tục mang lên Suối Giàng y phục, chăn màn, sách vở trước ngày hội trường sau đây nửa tuần trăng.
Bỗng thấy dưới gốc chè cổ thụ, các học nữ xúm đen xúm đỏ hớn hở gọi nhau. Ra là các cô đã nhìn nhẵn mặt Quốc Quân trên truyền hình giờ đòi chụp ảnh chung. Tay diễn viên ria thấy bói mấy chục xuân xanh giờ vẫn trong cảnh phòng đơn gối chiếc bấy giờ đang nở nụ cười “phản diện”, mũ vẫn sùm sụp, đầu nghẹo bên tả, mông vểnh bên hữu hai tay bị các sơn nữ túm chặt, lần đầu đóng vai ma nơ canh. Chừng mười khắc sau, Quốc Quân trốn ra sau nhà len lén vạch tay áo. Chỉ thấy trên cánh tay gân guốc như ống điếu cày chi chít các vết tím.
Bỗng có tiếng nói cất lên phía sau:
- Sao phải suỵt soạt
Quốc Quân vội vàng thu tay áo, miệng cố gặng ra một nụ cười không phản biện. Chỉ thấy người nói tay to như tay gấu, khuôn mặt hiền lành, đang nở một nụ cười. Hỏi ra mới biết đó là viên quan đầu thôn Suối Giàng gọi là Sồng A Nủ. Bấy giờ, Sồng A Nủ kéo tay quân vào mâm cơm được Gánh hàng xén đặt từ trước. Y chưa kịp ngồi lập tức đã được thưởng 3-4 bát rượu to vì cái tội là diễn viên nổi tiếng. Các sơn nữ tới tấp mang rượu sang đòi Quân uống. Tay vẫn bấu chặt cánh tay ống điếu cày.
Hết bát thứ 3 của hũ thứ 2, Quốc Quân thều thào:
- Từ từ. Xin cho tại hạ từ từ. Không thì thành “giám đốc nhà máy cháo” mất.
Bống nhiên các sơn nữ lại nháo nhác bỏ Quốc Quân tơ hơ một mình chạy cả tới gốc chè. Nhìn ra thì thấy một hồng y thiếu nữ mắt đeo kính đen trán dán một chữ “Thiên cơ” đang lẩm nhẩm độc thoại như mới ở Trâu Quỳ ra. Hóa ra đang giở ma thuật.
Muốn biết hồng y thiếu nữ giở ma thuật gì, xin xem hồi sau sẽ rõ

 

Cơm ký- Hồi 2:
Trổ tài bốc phệ Nga Cả Dớ nhiễu loạn nhân tâm
Dùng lời tâm huyết Trần Đăng Tuấn bàn mưu tính kế
Lại nói Độc cô Quân Quốc đang hí hửng khua môi múa mép bỗng nhiên thấy trơ lại một mình thì lấy làm bực bội lắm. Y thi triển kh

inh công phóng tới gốc chè. Chỉ thấy một hồng y thiếu nữ mắt sắc như dao, trán dán một chữ “Thiên cơ” miệng đang lải nhải chém bão.
Bấy giờ hồng y thiếu nữ đang dò dẫm trên đường sinh đạo của một thanh y phu nhân tuổi trạc tam tuần. Phán rằng:
- Nàng là tuổi con…cò. Mạng thủy, trong tên có chữ thảo, lại ở đỉnh núi đất chè. Tất vướng chuyện nhân duyên.
Thanh y phu nhân bấy giờ sụp xuống:
- Xin cao nhân chỉ giáo
Hồng y thiếu nữ đáp:
- Chuyển về xuôi cũng là một cách
Thanh y phu nhân ngước lên nhìn. Ánh mắt có chút ngỡ ngàng rồi bỗng cất giọng quật cường:
- Tiện nữ lên núi đã 7 mùa lá. Suối Giàng giờ là quê. Học trò giờ là con. Quyết không bỏ đi được. Chuyết phu dưới quê mà có ý gì thì cũng coi như đó là ý giời. Quyết không thể nghe lời.
Đoạn phủi đít đứng dậy quay người bỏ đi ngay.
Bấy giờ ở Suối Giàng, các giáo nữ đều từ dưới núi lên, ít thì dăm ba năm, nhiều thì đã lập thôn cùng nhau sinh sống.
Độc cô Quân Quốc bèn dùng thiên lý truyền âm hỏi Dương Thượng Cường
- Con cá dớ này là đứa nào. Sao giờ trò bốc phệ làm nhiễu loạn nhân tâm chốn này
Dương Thượng Cường nghe thế đến bên hồng y thiếu nữ, đâm ánh mắt vào con trứng cá mọc trên má hồng, cười he he nói:
- Cứ ở đó mà chém gió. Dao sắc liệu có gọt được chuôi. Hạ không thông nó đang phùi cả lên thượng kìa
Hồng y thiếu nữ tức giận mặt đỏ tía tai quét sang một ánh mắt sắc như dao. Hỏi ra mới biết tên Nga. Nhân chuyện chém gió thiên cơ từ bấy được giang hồ yêu mến tặng cho danh hiệu là « Cả dớ ». Bấy giờ, có lẽ chỉ Độc cô Quân Quốc và Dương Thượng Cường đại hiệp nhận ra điều đó. Nhưng ngay buổi chiều, Độc cô Quân Quốc trúng ngải Nga Cả dớ ngã ngựa giữa đường phải chuyển gấp về thành Thăng Long. Sau này, Nga Cả dớ còn bày chuyện mượn bào khiến một quân tử chết đứng giữa Mường Lay. Nhưng đó là chuyện sẽ nói về sau.
Tinh mơ hôm sau, Gánh hàng cơm ngựa ngậm tăm người ngáp vặt lên đường đi Mù Cang Chải.
Lao Chải nằm trên một cái dốc thực cao. Đường núi hiểm trở, một bên là vách nuí dựng đựng, một bên là vực sâu vạn trượng. Đến giữa đường núi, chợt từ trên truyền xuống hiệu lệnh dừng lại. Chúng nhốn nháo tiến lên phía trước. Chỉ thấy sa độc thù lù một đống bít chặt lối đi.
Hán tử tên Lâm bèn hỏi rằng :
- Núi này là núi gì.
Có kẻ sơn dân áo nâu nón lá bước lên đáp :
- Núi này là Cấm
Lại hỏi :
- Rừng này là rừng gì
Đáp rằng:
- Rừng này là rừng Cấm
Lâm công tử liền ngửa cổ cười hắc hắc mà rằng : Ta ở Thăng Long sáng sáng xem mông phường ma nữ, trưa trưa luyện độc tửu thực tâm, chiều chiều cưỡi ngựa băng qua hố tử thần. Có gì độc hơn ma nữ. Có gì hung hiểm hơn hố tử thần thành Thăng Long. Một chữ « Cấm » có dọa được ta ư.
Liền cầm xẻng nhào vào đống sa độc hất tứ tung.
Từ sau chợt có tiếng la lên
- Cẩn thận trúng độc
Chúng bất giác lùi lại đưa tay áo lên che mũi thầm hỏi nhau : Không lẽ Hải Sa Bang tái xuất giang hồ ? Hải Sa Bang rất nhiều võ học danh gia, sở trường dùng sa độc một thời oai trấn giang hồ. Lúc đó, mặt Lâm công tử đỏ lừ, khắp cơ thể y tỏa ra một mùi hôi thối khó chịu. Trúng sa độc, có lẽ chỉ vài khắc là y sẽ lảo đảo ngã quay táng ra đất.
Mọi người chưa biết phải làm sao, bỗng thấy từ phía sau một người giả lả bước lên xua tay : Không sao, không sao.
Chỉ thấy người này hình dung tiều tụy, chân cẳng khẳng khiu, bên sườn từng dải xương xếp nếp nhô cao như ruộng bậc thang. Y mắt đeo một cặp hộ nhãn kiếng, bận y phục màu cứt ngựa dài quá gối. Hóa ra đó là Hồ Anh, có ngoại hiệu là « Thần ẩm thực ». Thần ẩm thực Hồ Anh cùng với Lâm công tử vốn được giang hồ mệnh danh là «hắc phong song sực», gắn với nhau như hình với bóng, một người béo, một người gầy, một người giỏi xơi, một người tài uống. Quần hùng thấy Hồ Anh vì nghĩa mà đồng sinh cộng tử với Lâm công tử liền lấy làm khâm phục lắm. Bấy giờ Thần ẩm thực Hồ Anh đang cúi đầu xuống gửi nách trái. Đoạn lại chìa ra nách phải ý muốn mời mọi người ngửi thử. Thấy chúng giơ tay bịt mũi, Hồ Anh liền nói :
- Không phải sa độc. Đó là mùi cá mắm. Tại hạ người cũng toàn mùi cá mắm đây.
Lâm công tử bấy giờ mới phát giác mọi người đang nhìn mình liền quay lại, nói :
- Con la già của Dương Thượng Cường chở cá mắm. Tại hạ từ sáng qua đến giờ bị ướp trong cá người hôi như lợn mán đấy thôi.
Chúng thở phào cung tay bái Dương Thượng Cường miệng hô : Khâm phục ! Khâm phục.
Bỗng thấy Nguyễn Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến lén giở áo đưa lên mũi…ngửi.
Chừng nửa canh giờ, Gánh hàng cơm đến Lao Chải. Đám trò nhỏ túa ra đón rất đông. Y phục tinh tươm. Nụ cười đầy nắng. Mùa xuân năm trước, Gánh hàng cơm của Trần Đăng Tuấn đã giúp Lao Chải xây bếp, làm nhà thả bom. Bấy giờ đám trò nhỏ đã có cơm thịt mà ăn, đưa nào đứa nấy thảy nom đều phúc hậu như Thần ẩm thực Hồ Anh.
Trần Đăng Tuấn bấy giờ thấy lũ trẻ thì thích thú lắm, liền cùng quần hào hỏi han tặng quà, đi vào tận bếp xem việc nấu ăn cho lũ trẻ. Bên cổng trường, chợt có mấy trẻ trâu người Mông ở thôn bên tò mò tới xem, mặt mày nhọ nhem, y phục tả tơi, có đưa mặc áo không quần, lủng lẳng ra một con cu bằng quả ớt gió. Liền rút khăn lau hộ nhãn kính.
Sau này, khi tấm hình được đưa lên face, có người từ thiện từ Thăng Long nhất quyết gửi bằng được một bọc quà cho Lủng-Lẳng-Con-Cu-Ớt, còn in tấm hình dán ra bên ngoài.
Qua vài tuần rượu, có người chủ học hiệu lên gặp Trần Đăng Tuấn mà thưa lên rằng : Lá thì đã có cơm thịt, nhưng mầm thì chưa.
Trần Đăng Tuấn hỏi :
- Xin các hạ chỉ giáo
Viên chủ học hiệu liền thưa :
- Triều đình đã quyết ngân lượng cho học trò 5 tuổi từ mùa thu năm ngoái. Nhưng chưa thấy có ngân lượng từ trên đưa xuống. Mong tiên sinh giúp cho việc này.
Trần Đăng Tuấn đáp :
- Chính sách từ bộ Học được chuyển qua bộ Công. Có lẽ là chưa thể cấp ngân lượng ngay được.
Lại bàn :
- Bây giờ, Gánh cơm của tại hạ sẵn lòng ứng trước ngân lượng để các vị mua thịt cho các cháu. Tới mùa xuân, khi ngân lượng được triều đình cấp xuống, bọn tại hạ cũng chẳng dám đòi lại đồng cắc nào. Chỉ mong các hạ dùng tiền đó làm một cái dự án trồng rau, chăn nuôi ngõ hầu các trò được cải thiện.
Thấy người chủ học hiệu nói lời cảm ơn, Trần Đăng Tuấn liền nói :
- Tại hạ, cũng như các hạ, cũng là vì lũ trẻ trâu cả thôi. Nếu khi triều đình đưa ngân lượng xuống mà các hạ đem phân chia cho gia đình thì có lẽ tiền ăn 2 mùa của lũ trẻ chỉ đủ bữa rượu cho các bậc phụ huynh.
Gánh hàng cơm từ thủa khởi nghiệp ở Suối Giàng bấy giờ đã khất thực được hơn 3,6 tỷ quan tiền. Cơm thịt đã hiện diện khắp vùng biên ải với 46 học hiệu nhận ngân lượng, hơn 5.100 đứa học trò có miếng thịt trong bữa cơm. Chủ gánh cơm Trần Đăng Tuấn vẫn giữ chặt một chữ tín. Không có chút đơn sai nào.
Bấy giờ, sau khi bàn với viên chủ học hiệu, Trần Đăng Tuấn muốn LaNa lên ngay kế hoạch chuyển ngân lượng cho Lao Chải, liền gọi to ba tiếng : LaNa, LaNa, LaNa.
Không có tiếng đáp. Ngoảnh lại thì thấy LaNa đang thẩn thơ nhặt lá đá ống bơ, miệng mỉm cười khó hiểu lúc ngẩn ngơ, khi thẫn thờ. Má hồng. Trán lấm tấm mồ hôi. Lâm công tử tái mặt thọc tay vào túi, rút ra liền lúc 2 củ tỏi. Đoạn hốt hoảng :
- Tại hạ cầm nhầm tỏi của LaNa rồi.
Quần hào liền giật mình. Có người nói to : LaNa trúng ngải rồi.
Muốn biết LaNa tiểu thơ trúng ngải gì. Xin xem hồi sau sẽ rõ

 

Hồi 3
Bị sét đánh Vinh Kute đâm răng vào lợi
Lộ nhân thân LaNa Nguyễn húp hết nồi canh
LaNa má hồng hồng, chân dài tới nách, nách cao tới vai. Trên đầu mọc thứ gì đen như tóc. Thường không mấy khi mặc quần. Làm duyên bằng cách cắn móng tay.

Miệng nói không ra ứ cũng chẳng phải ừ. Liếc mắt trái trâu ngã, liếc mắt phải bò quay. Xem ra cũng vào hàng tuyệt sắc mỹ nhân. Có lần ôm một đống ngân lượng đi khắp thành Thăng Long chỉ để mua một chiếc gương. Về nhà treo lên tường lượn đi lượn lại tự cười 27 lần, lấy làm đắc ý lắm.
Nàng có tính thương người. Có lần đọc Xa Diễm khóc trôi người từ trên giường xuống đất. Đến năm Tân Mão, nhân một lần ngao du trên Net kỳ duyên gặp Trần Đăng Tuấn, lấy làm cảm phục đức độ người quân tử, từ bấy treo váy mặc quần theo Gánh hàng cơm đi khắp miền biên viễn cho đó mới là lẽ sống ở đời.
Bấy giờ trời đã xế trưa. Quần hào qua vạn dặm đường đã kiến bò trong bụng nhìn ra vẫn thấy LaNa đứng bên bụi cúc tần tủm tỉm vặt lá.
Kính đeo ngay trước mắt mình
Nhiều khi vẫn cứ đi tìm loay hoay
Cửa đời chìa khóa cầm tay
Mà sao vẫn cứ loay hoay đi tìm
Ra là nàng đang đọc mấy câu thơ được ai đó gửi tới.
Có người làu bàu: – Ngải gì đâu mà ngải. LaNa tiểu thư trúng bùa yêu rồi.
Trong đám quần hào, chợt thấy có một người che miệng cười tủm. Người này thuộc hàng trâm anh thế phiệt mặt nhỏ không râu, chân to như tay. Nhìn kỹ chỉ thấy người này hình dung cổ quái, ngực căng như mông, mông căng như bụng, bụng dính vào lưng, chứng tỏ hàng cao thủ thượng thừa võ công nội gia. Hỏi ra mới biết là người của Lao Động quán, tên Vinh, thường lên mạng đong gái rất hăng. Giang hồ vì thế đặt cho ngoại hiệu là Vinh Kute. Vinh Kute có tật thấy mỹ nhân là hồn xiêu phách lạc, ứng khẩu làm thơ ngợi ca, thường ví các mỹ nhân với “Mẹ Việt Nam anh hùng”.
Cơm có thịt của Trần Đăng Tuấn bấy giờ đã trở thành một phong trào dẹp giặc đói. Phân cục mở ở khắp nơi, trong nước có Giỏ thị, Gánh hàng xén, hải ngoại thì từ xứ Cờ hoa, Úc Đại Lợi, sang tới vương quốc Thụy điển…Chuyến này, Lao Động quán cũng cử người mang theo ngân lượng, hàng hóa cùng lên núi chung tay với Gánh hàng cơm. Vinh Kute bỏ mặc phu nhân rớt nước mắt ngồi xổm trên bậu cửa đợi chờ, một người một ngựa hăng hái lên núi quyết chiến liều thân làm anh hùng hiệp sĩ. Không ngờ vẫn không bỏ được tật “thưởng hoa”.
Nguyên Gánh hàng cơm lên núi lần này có mỹ nữ đến từ xứ Ả rập gọi là Bảo Linh cô nương. Đêm trước ở phủ Nghĩa Lộ, Vinh Ku te giở thuật đong gái nắm tay nàng dung dăng dung dẻ trên cầu treo, vung tay khua chân, trỏ trăng chỉ nước, thốt lên rằng: “Ta đang đung đưa. Vì hảo tửu. Vì hảo mỹ nữ. Và vì hảo…cầu treo”. Ngờ đâu đến non trưa hôm sau đã nhằm LaNa bắn tin đá tình lia lịa.
Bảo Linh cô nương bấy giờ thấy Vinh Kute lén la lén lút liền giận lắm, bước tới trách:
- Người quân tử sao lại nói hai lời.
Bảo Linh là người theo phật có pháp hiệu là Diệu Hoa, vốn tính đa mang. Nàng xót thương những đứa trẻ sơn dân. Đọc rách lóc Cơm thịt. Lần này, từ xứ Tàu trở về, nàng quyết một lần theo Trần Đăng Tuấn lên núi để xót thương không chỉ để trong lòng. A di đà phật. Thiện tai. Thiện tai. Nào ngờ, được nửa đường đã gặp nghiệp chướng.
Lại nói Vinh Kute bấy giờ xoắn tay vào chân, mồ hôi ướt đũng quần lắp bắp:
- Ta, ta đâu có bắt cả hai chân
Chiều đó Bảo Linh cô nương tức thì quay lại Thăng Long. Hôm sau, thực sớm đã ngược sang Tàu. Trước khi rời đi không liếc Vinh Kute lấy một lần, cung tay bái Trần Đăng Tuấn hẹn ngày tái ngộ. Chuyện đến đây không nói nữa.
Sớm hôm sau, cả gánh rời đi Phong Thổ, huyện biên viễn giáp giới nước Tàu. Trên đường xảy ra vài chuyện vặt. Tỷ như Hùng Bát Nhã ba lần lạc bước. LaNa tiểu thơ dạy cô giáo Luyến thuật “Luân chiến tam anh hùng”. Vương Quân Hoàng đại hiệp khiêu chiến lục lộ phu. Hay chuyện la già của Dương Thượng Cường cho Thiên lý mã ngửi khói đít. Thiết tưởng cũng không cần phải chép ra đây.
Huổi Luông là một trấn biên ải thơ thơ mấy nếp nhà. Trấn giáp giới đến mức đứng bên này có thể tè sang Trung Hoa đại lục. Quần hào háo hức lắm. Có người nói:
- Chuối Tàu dường như cũng to hơn chuối Việt thì phải
Có người lại nói:
- Cờ Tàu nhiều sao hơn cờ ta
Cả gánh xúm vào chụp hình, xâu hàng bên cột mốc biên giới đánh số 61. Lâm công tử nhìn ngang ngó dọc thấy Dương Thượng Cường đang mải vỗ đít con la già bèn tranh thủ giở trò nhăn nhở nắm tay nắm chân Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến.
Một lát, thấy một viên tướng trấn ải cưỡi con Loncin Tàu dặt dẹo phi ra đón, xưng tên là Trần Quốc Toản.
Huổi Luông học hiệu nằm trên một trái núi nhỏ. 250 học sinh nội trú chen chúc trong một ngôi nhà hình chữ U. Viên quan địa phương là Giàng A Chu trong chuyện nói tới 3 chữ “Khó”. Ở Na Sa Phìn, ở Ngải Chồ học hiệu vẫn phải dựng bằng tranh tre nứa lá. Học trò đêm đêm vẫn phải trải chiếu nằm sàn. Và bữa cơm triền miên rau đậu.
Trần Đăng Tuấn lấy làm xót thương lắm huy động quần hào hạ xuống cá khô, xà phòng, sách vở, quần áo. Đoạn ngửa mặt nhìn trời than rằng: Biết đến bao giờ thì cơm có thịt!
Tối đó, ngồi thở dài giở sách ra tính việc mở thêm phân cục, lên face khất thực để kiếm thêm cơm thịt mang lên núi. Lại ra câu đối: Thịt cơm, cơm thịt, bao giờ không xôi thịt, để có thịt có cơm, có cơm có thịt.
Lại nói đến LaNa, lần này lên núi, nàng cho con gái là tiểu nữ Mei đi theo, ngoài việc luyện công phu “phóng cháo”, LaNa muốn con gái nàng học được hai chữ “nhân ái”. Soi bóng mình trong mắt quần hào thấy vẫn tràn đầy sự diễm lệ khả ái, LaNa bèn giới thiệu tiểu nữ Mei là một tiểu bằng hữu Phan Đình Phùng học hiệu tình nguyện theo Gánh hàng cơm.
Bữa đó, vừa tan tuần rượu, Vinh Kute lại ngứa nghề “thưởng hoa”, đắm đuối ngắm LaNa và dọn giọng tìm thi hứng.
Bánh mỳ phải kẹp pa tê
Đàn ông phải có máu dê trong người
Vừa được hai câu, tiểu nữ Mei bất đồ sà vào lòng LaNa gọi hai tiếng “Má má”.
Vinh Kute tròn mắt, miệng không ngậm lại được, tay cầm cây tăm nhọn chọc luôn vào lợi.
Quần hùng thấy vậy cười muốn rớt răng.
Mặt LaNa đỏ như quả ớt chín. Nàng lua hua tay chân vô thức bê nồi canh loạt xoạt húp đến đáy.
Sáng hôm sau, quần hào phải làm mặt lạnh khi bọn tiểu điếm than vãn khuê phòng của LaNa đã giật hết cả phuy nước bồn cầu.
Về sau có câu thơ làm chứng, rằng:
Chết đứng giữa trời Vinh Kute đâm răng vào lợi
Không chín mà đỏ LaNa Nguyễn húp hết nồi canh
Cũng là chuyện ông tạo thật khéo gầy cơn. Thiết nghĩ cũng nên lấy đó mà đặt tên cho hồi này vậy.

Chú thích một số từ ngữ và chi tiết
Tỏi: Vật dụng mà quần hào đút túi để tránh ngải, bùa. Lâm công tử không vô ý cầm nhầm của LaNa bởi hôm trước nàng mặc váy nên không có chỗ đút.
Liếc mắt trái trâu ngã, liếc mắt phải bò quay: Ý này lấy từ câu sắc đẹp tan thành đổ.. nước. Nhưng vì bọn hào sĩ giang hồ trong Gánh hàng cơm cho rằng sắc đẹp cái gì là “chim bơi cá nổi” hay “tan thành đổ nước” không còn hợp với khuynh hướng chém bão thời @ nên tác giả để nguyên văn.
Phóng Cháo: Môn công phu tương tự như tiểu lý phi đao của Đường môn. Cao thủ võ lâm nạp cơm vào dạ dày, khi lâm sự thì phóng ra một thứ dung dịch nhão như cháo làm cho đối phương không thể thở, rơi vào tình trạng tương tự như tẩu hỏa nhập ma.
Câu chuyện LaNa lượn lờ cười 27 lần soi gương trong một canh giờ có xuất xứ từ blog LaNa.
Chuyện Vinh Kute trỏ trăng chỉ nước thề non hẹn bể với Bảo Linh cô nương về sau được chính chàng giải thích là do say… cầu treo nên tưởng là đang làm thơ ca ngợi đức độ của cô giáo Nguyễn Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến.
Vế đối và hai câu thơ cuối đích thị là của Trần Đăng Tuấn tiên sinh. Nguyên văn vế đối- Xôi thịt, thịt xôi, trong thịt có xôi, trong xôi có thịt (giờ vẫn chưa có người đối được). Tuy nhiên trong hồi 3, tác giả phải sửa lại thành “cơm thịt”, vì Trần phu nhân ngồi ở thành Thăng Long rất dễ hiểu xôi thịt theo một nghĩa nguy hiểm. Nhất là khi trong Gánh đợt này có thịt có xôi.

 

Cơm ký- Hồi 4:
Hùng Bát Nhã 2 lần sa cơ
Trần Đăng Tuấn 3 lần trọng vợ
Lại nói quần hào đang thả dây cương bên ánh tà dương vàng vọt, chợt từ xa bốc lên một cuộn bụi đỏ bay lưng chừng trời. Giữa đám bụi đỏ, hùng dũng xông ra một con xích thố

đỏ chót mình chét mồ hôi. Hán tử cưỡi trên lưng ngựa để đầu trần, mặc y phục nửa trắng, nửa xanh, dận hài Ý đại lợi, mắt mang hộ nhãn kiếng đen thui, lông tóc vuốt keo theo kiểu điện giật. Cổ treo tòng teng một mảnh bích ngọc, ngực cài lấp ló một vỉ Salipas- dáng thực công tử hào hoa.
Mọi người ồ lên gọi: Hùng Bát Nhã. Hùng Bát Nhã
Trong Gánh hàng cơm của Trần Đăng Tuấn, Hùng Bát Nhã là viên tướng tiên phong, thiết tưởng phải chép ra đây đôi dòng bản kỷ.
Hùng nguyên người Thanh Miếu phủ Phú Thọ. Thủa sinh thời toàn thân có lông đen, khi đói thường mút ngón tay chùn chụt như gấu nên được song thân đặt tên là Hùng. Năm Hùng lên ba, tỏ ra thông minh đĩnh ngộ. Có vị thầy tướng đi qua trông thấy ngộ quá mới phán rằng: Thằng cu này lớn lên nhất định sẽ thành đàn ông. Phụ mẫu nghe thế thì mừng lắm. Năm mười tuổi, nhân gặp một vị tao nhân hào sảng kể chuyện kinh thành Thăng Long, Hùng từ bấy đem lòng mơ ước, thường chém với chúng bạn rằng: Ta sau này nhất định về Thăng Long.
Mùa xuân năm ngoái, khi Trần Đăng Tuấn yết bảng khất thực cho trẻ trâu miền sơn cước với những lời lẽ chân thành- mong ước mỗi đứa trẻ sơn dân được 1-2 miếng thịt mỗi bữa ăn. Dân Net bấy giờ vào xem đông nghịt, vote, like tới tấp. Chiều nọ, Hùng Bát Nhã nhân vừa mang Salipas đi bán vào các kỹ viện ở Đồ Sơn, xứ Hải tần phòng thủ đi ngang qua bèn tò mò vào ngó. Đoạn thở dài.
Bấy giờ có người đứng sau nói lớn:
- Làm trai cho chí nên trai. Nói thì nói. Làm thì làm chứ sao lại đứng đó thở dài
Hùng quay lại vái dài đáp :
- Xin lắng nghe cao kiến lão tiên sinh
Chỉ thấy người này mặt vuông, mắt sáng đầu húi trọc như Lỗ Chí Thâm, mặt đỏ như mặt Quan Vân Trường tay đang cầm một chai Jonhny walker bú ừng ực. Người này thấy vậy nói :
- Tại hạ thấy tiểu huynh đệ ra dáng công tử. Lại thấy quan tâm đến chuyện hiệp nghĩa nên thấy lạ quá thôi.
Lại nói thêm mấy tiếng : Chó có váy lĩnh. Chó có váy lĩnh
Hùng bấy giờ ngạo khí trỗi dậy bèn nói :
- Lão huynh đừng trông răng mà bảo người khác nghiện chè. Sự nghĩa hiệp không phải chỉ dành cho quần hào võ lâm, cũng không phải của riêng tao nhân mặc khách. Tại hạ bình sinh ra đường chả sợ bố con thằng nào
Người kia thấy thế liền đáp :
- Tại hạ lỡ lời. Chẳng qua thấy tiểu huynh đệ thở dài nên thử lòng đó thôi.
Lại nói :
- Tại hạ họ Phạm, tên Tiến, có đệm chữ Ngọc. Cha ông đã ở Thăng Long mấy đời nay, theo nghiệp văn sách. Bình sinh tại hạ sống ngay thẳng máu lửa như loại rượu Anh Cát Lợi này. Nay thương sơn dân cảnh nghèo nên theo Trần Đăng Tuấn lên núi.
Nói xong lại đưa chai lên bú.
Hùng nghe vậy mừng lắm bèn nắm tay Phạm Ngọc Tiến nói :
- Tiểu đệ đọc xong bảng văn cũng muốn lộn túi theo Trần Đăng Tuấn một phen. Xin được kết giao bằng hữu với nhân huynh.
Phạm Ngọc Tiến quay sang nhìn Hùng trong lòng thầm nghĩ : Y có sự thực lòng, nhưng trên mặt có chữ « trai lơ », mình lại có đến 2 tiểu nữ. Chi bằng nhận quách y là nghĩa tử cho hết đường nhòm ngó.
Nghĩ vậy bèn nói :
- Ta cũng đã nhiều tuổi, nếu các hạ không chê, xin kết nghĩa phụ tử.
Hùng nghe thế mừng lắm cúi người xuống bái, miệng gọi : Nghĩa phụ, nghĩa phụ.
Đoạn lại khóc òa lên :
- Trước nay nghĩa tử chỉ kết giao với bác Minh Râu và cụ Franklin. Nay có thêm nghĩa phụ, thật mừng quá, mừng quá.
Phạm Ngọc Tiến cũng nói :
- Ta đêm nằm ngày kề trước nay cũng chỉ với 2 vị : Jonhny Walker xứ Anh Cát Lợi và Napoleon xứ Phú Lãng Sa. Ha ha. Thật là ý…lưu linh.
Từ đó, 2 cha con nay Y Tý, mai Dền Thàng ngựa không dừng bước, rượu không cạn chai, lấy làm tâm hợp ý đầu lắm. Duy chỉ có mỹ nhân là hai cha con không ai chịu nhường ai. Hóa ra, cả hai đều có hai chữ « trai lơ » trong máu.
Nói lại chuyện Hùng Bát Nhã sau khi dừng ngựa thì trề môi nhìn con la già của Dương Thượng Cường hỏi:
- Loại nhân huynh cưỡi gọi là con gì thế này !
Mấy nữ nhân đứng quanh nghe vậy liền cười ồ cả lên. Dương Thượng Cường mặt đó tía tai nhìn trân trân con la già bấy giờ đang thở khò khè.
Vương Quân Hoàng thấy vậy tiến lại vòng tay hỏi :
- Xích thố của các hạ chắc vượt núi băng đèo ngày đi ngàn dặm
Hùng Bát Nhã đáp :
- Đây là loại xích thố xứ Cờ hoa, tại hạ phải bỏ ra mấy trăm vạn lượng mua về. Loại này chân to mình trường thân nặng. Mấy cái đèo cỡ Pha Đin nói coi như nấm đất dưới dân.
Chém gió đến đây thì quần hào đến Nậm Khắt. Đoạn này đường trơn như mỡ. Mặt đường hõm sâu tạo nên những chiếc sống trâu. Hùng Bát Nhã đi tiền quân liền quất phải nghiêng trái cưỡi thần mã lao vút qua. Nào ngờ con thiên lý mã bị thúc quá đà quay mòng mòng rồi dệ đít xuống bùn không cách nào ngoi lên đường.
Vương Quân Hoàng 20 năm ngồi lưng ngựa khoanh tay đứng đếm. Đếm đến ngón thứ 11 mà con xích thố vẫn không tài nào nhúc nhích. Dương Thượng Cường thấy vậy liền cười he he quăng ra một đoạn dây thừng rồi dùng con la già kéo lên. Đoạn bỏ mặc Hùng Bát Nhã mặt đỏ tía tai đứng đó, nhảy lên con la già. Con la, lưng lặc lè hàng hóa cứ từ từ bước lên thủng thẳng vượt qua vũng lầy.
Trong gánh, có vị mệnh quan triều đình vừa cáo lão về quê lần này lên núi nom cảnh đường xá xa xôi, đói khổ của sơn dân thì cảm thương lắm. Chỉ thấy ngước mặt nhìn giời thở dài thườn thượt. Hai năm trước, triều đình đã có trát xuống từng địa phương mở ngân quỹ cấp bổ đầu cho trẻ trâu biên ải 1,2 vạn quan tiền ăn mỗi tháng. Đã qua 11 con trăng, ngân lượng vẫn chưa thấy đâu. Trần Đăng Tuấn bấm tay tính rằng, Gánh hàng cơm mỗi tháng cần tới 600 triệu quan tiền để lũ trẻ trâu không đứt bữa. Tính ra, tốn đến 2 tỷ quan tiền. Đang thở dài thườn thượt chợt có ngựa lưu tinh báo tin phân cục ở Úc Đại Lợi đã chuyển về hơn 153 triệu quan tiền. Một lát, lại có thám mã báo tin phân cục mới đã được mở ở Ca Li xứ Cờ Hoa. Trần Đăng Tuấn mừng lắm nói lớn lên rằng : Người giúp ta rồi. Bấy giờ càng thêm động lực quẩy gánh đi Mường Tè.
Lại nói Gánh hàng cơm bấy giờ nhằm hướng chính tây khởi sự đi Mường Tè, huyện xa xôi nghèo khó nhất của phủ Lai Châu. Trời nắng như đổ lửa. Đường núi đoạn lầy trong bùn, đoạn bụi trắng một với tay không tỏ mặt người. Nhiều đoạn dốc sạt, ngầm đá, bọn hào sĩ giang hồ phải bỏ ngựa quay xe. Gian nan hiểm nguy thực không bút nào tả xiết. Quần hào có kẻ quấn khăn, người lột mão giúp đám quần thoa làm đồ chống nắng. Tối đó đến đường Mường Lay. Đây là vùng đất năm Nhâm Tý 1432 vua Lê Thái Tổ thân chinh cầm binh bình định Đèo Cát Hãn, sau làm bài thơ khắc trên vách đá Pú Huổi Chồ, tả ngạn Sông Đà, có câu :
Thảo mộc kinh phong hạc
Sơn xuyên nhập bản đồ.
Đề thi khắc nham thạch
Trấn ngã Việt Tây ngung
Dịch nghĩa:
Tiếng gió thổi hạc kêu làm cho quân giặc run sợ,
Sông núi từ nay nhập vào bản đồ.
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ phía Tây nước Việt ta.
Thầy trò Trần Đăng Tuấn bấy giờ cao hứng lắm, gọi tiểu nhị mang lên một tảng thịt to, một vò rượu lớn thưởng trăng, ngắm sông. Bấy giờ quán chủ “Men lá rượu ngô” mới lại phát hiện ra rằng trước có rượu Ngô Thanh Vân, giờ lại có thêm rượu Ngô Bảo Châu. Thực đúng là hữu duyên thiên lý.
Gánh hàng cơm bấy giờ có kẻ mõ sĩ họ Đào tối đó cặm cụi chổng mông ngồi post ảnh lên face thi thoảng lại cười hic hic như ma làm.
Chợt thấy từ cười chuyển sang mếu rồi đứng sừng như Từ Hải giữa trận tiền.
Quần hào hoảng hốt ùa tới, kẻ nắm tay người giữ chân. Có người nói to: Cho gàu nước tiểu. Y trúng phong rồi.
Đào mõ sĩ bấy giờ tay nắm chặt chiếc tê lê phôn reng reng. Chúng cậy mãi mới ra. Chỉ thấy trên đó in dòng chữ: “Sao lại trao y bào cho kẻ tiện nhân. Ghen rồi đấy”. Thì ra y trúng nhiếp hồn loạn tâm thuật của Đào thị ở thành Thăng Long. Nguyên Đào mõ sĩ mải câu chuyện vui quên câu chuyện cảnh giác hồi chiều cởi áo trao y cho Nga cả dớ. Lúc post hình, ma xui quỷ khiến thế nào lại post luôn hình y thị mặc y bào lên face.
Chừng nửa tuần hương, Đào mõ sĩ mới tỉnh lại. Y nước mắt lưng tròng quỳ sụp xuống lạy Trần Đăng Tuấn:
- Mong cao nhân mở lượng từ bi hỷ xả cứu người.
Có kẻ hào sĩ bàn rằng:
- Hay Trần Đăng Tuấn tiên sinh nhận Nga thị là cháu
Trần Đăng Tuấn giãy nảy:
- Cháu là cháu thế nào. Các hạ không nghĩ phu nhân của ta ở nhà cũng biết « Ăng ghen » à !
Quần hào cười muốn rớt răng. Quả là thầy nào trò nấy.
Vị mệnh quan triều đình, thúc phụ của Nga cả dớ bấy giờ cười hô hô nói :
- Trưa mai, y bào đó Nga thị sẽ cởi ra, đưa LaNa mặc, rồi lại chuyển sang cho Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến. Đào thị ở nhà có khi lại tưởng đồng phục Gánh hàng cơm
Đào mõ sĩ nói như mếu :
- Nhưng tại hạ đã nhận tội rồi
Quần hào cùng ồ lên một tiếng nhìn y thương hại, bụng nghĩ thầm thằng cha này nó ăn nhầm phải cái gì mà ngu thế.
Trần Đăng Tuấn thấy thế liền an ủi
- Thôi. Đào thị nó có đuổi ra khỏi nhà thì cứ đến, ta cho ở nhờ. Ta cũng ối lần phải đi ở….
Chữ nhờ chưa kịp nói ra thì tiên sinh người đã nuốt ực trở lại. Đoạn lặng thinh như thóc.
Quả là anh hùng nan quá mỹ nhân quan.
Sớm hôm sau, cả đoàn lên đường từ lúc gà chưa gáy sáng. Tới một con suối lớn thì có hiệu lệnh từ trên xuống. Cả đoàn dừng ngựa.
Chỉ thấy thế nước hung hãn cuộn tung bọt trắng. Đá tảng đầu ông sư trơn nhãy rình rập. Xung quanh không một chiếc bè mảng nào có thể qua lại. Người cúi mặt, ngựa lắc đầu. Ải mỹ nhân chưa biết có qua không, chỉ biết là ải thiên nhiên giờ chặn đứng đường đi.
Quần hào chưa biết phải vượt suối cách nào. Chợt có người nói lớn:
- Tại hạ có cách rồi. Chỉ hiềm một nỗi…
Trần Đăng Tuấn nôn nóng hỏi
- Xin các hạ chỉ giáo
Chỉ thấy người này giơ tay chỏ sang phía tả
Muốn biết quần hào vượt suối bằng cách nào, xin xem hồi sau sẽ rõ

Cơm ký- Hồi 5
Dương Thượng Cường đỏ mặt tía tai không tắm suối
Hùng Tổng quản ngảnh mặt nhíu mày mở dây lưng
Lại nói quần hùng bị suối lớn chặn đường tiến thoái lưỡng nan giữa một sơn cốc nhỏ chưa biết làm thế nào bỗng thấy có giọng oanh c

ất lên trong trẻo:
- Để bản cô nương thử vượt suối
Nhìn ra thì thấy đó là một bạch y thiếu nữ, tóc bỏ đuôi gà, chân mang dép màu rất…thắm. Không nói cũng biết đó là LaNa cô nương. Nguyên LaNa chiều chiều thường diện “ba chấm” luyện công phu “thủy thượng phiêu” ở Ngọc Khánh hồ, thủy tính cao nhất nhì chốn giang hồ. Để hiểu thủy tính của nàng cao đến bậc nào, chỉ cần biết Ngọc Khánh là một thứ hồ cá tôm còn không sống nổi. LaNa bấy giờ nai nịt gọn ghẽ, vén váy rón rén thi triển tuyệt kỹ công phu từ từ lướt qua suối. Hóa ra nước sâu chưa tới bắp chân.
Quần hào thấy vậy thì cười ồ cả lên bèn tháo hài lục tục vượt suối. Trong gánh, chỉ có Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến tiểu thơ, vốn dĩ sở trường leo cột, không có thủy tính bị trượt chân lấm nước. Bấy giờ, trên bờ vẫn thấy có 3 hán tử khoanh tay đứng nhìn quần hào thôi lôi thếch thếch vượt suối. Lại che miệng cười khùng khục. Nhìn ra thì thấy đó là Thần ẩm thực Hồ Anh, Lâm Công tử và Hùng Tủ Câm, có ngoại hiệu là Hùng Tây Bắc. Đoạn 3 người rẽ sang tả 3 bước. Ở đó lù lù một chiếc cầu treo. Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến thấy thế liền nổi cơn tam bành phóng mắt “Bối kình điêu cung mộ hoàn, truy tinh cản nguyệt triển phong đông”, xử ra “bách độc xuyên tâm”, một tuyên chiêu của Ngũ độc giáo. Tam anh hùng lập tức toàn thân đỏ như lợn mán quay rơm, vô thức líu ríu đi thành một hàng bước theo Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến. Về sau nàng buộc tam anh hùng khoanh tay quỵ gối nói một ngàn tiếng “so rì” mà quần hào võ lâm thường cho đó là tích “Cô giáo Luyến trách phạt tam anh hùng”. Chuyện đến đây không nói nữa.
Huổi Van là một bản Mông nằm tênh hênh bên ria mép một khu rừng trúc. Cái thế đất, thế nước khó coi như cái nốt ruồi đại chình ình giữa há hồng thiếu nữ. Bước chân ra nghênh đón quần hùng là một thiếu niên sơn dân ước chừng đôi tám. Y bồng trên tay một tiểu tử, mũi thò ra một đôi… thanh long. Lại dắt theo một tiểu tử chừng lên bảy, lên tám, mặt nhọ như mọc râu mèo, toàn thân nhuộm nắng đen thui, trước sau trên dưới trần như nhộng.
Trong đám quần nào có người kiến văn quảng bác, nhớ lại chuyện Tiểu Long Nữ lõa thể luyện Ngọc nữ Tâm kinh bèn giật mình, bước lên xá dài:
- Phải chăng tam anh hùng đây lõa thể luyện “Đồng Nam tâm kinh”?
Thấy kiến văn của đám hào sĩ, các nữ sư của Huổi Van học hiệu lăn lộn ôm bụng, cười tóe nước. Lát sau mời ngừng cười, xua tay lắc đầu ra ý đây không phải là tam anh hùng hay tứ cô nương gì hết. Lại bảo:
- Sơn dân vì nghèo, không áo không quần chứ đâu phải lõa thể luyện Ngọc nữ hay Đồng nam.
Quần hào toàn kẻ lịch duyệt giang hồ, bắc nam đông tây chinh chiến đã nhiều nhưng chưa từng thấy sự nghèo đến nỗi thiếu cả một manh áo tấm quần. Đợi các nữ sư đi rồi, có người đại hiệp là Hoàng Minh Hùng, tự Hùng Tổng quản liền len lén mở dây lưng rút ra ngân lượng riêng ân cần đưa tận tay người sơn dân nọ. Lại sợ ngân lượng thành bò rượu mà không ra chuyện y phục bèn vời tay vẫy đến hai kẻ thương nhân mua ngay một bộ hồng y cho tiểu tử.
Bấy giờ có hai kẻ thương nhân từ Lai Châu phủ cưỡi ngựa nhỏ theo lối tắt vượt suối băng đèo mang hàng vào Huổi Van ngáp ngắn ngáp dài đã qua 2 ngày mà không bán nổi một xu, một cắc tiền hàng, thấy vậy thì mừng rỡ lắm, bái tay mà nói rằng:
- Đa tạ đại hiệp. Chúng tiểu nhân đợi ở đây đã hai ngày, tự hứa rằng bán được món hàng đầu tiên sẽ rời đi. Quyết không trở lại.
Lại lắc đầu:
- Chưa ở đâu thấy dân không dùng ngân lượng như ở đây.
Nói đoạn liền cưỡi ngựa lên đường. Không ngoảnh đầu lại.
Hoàng Minh Hùng trán cao ngắn tóc, khuôn mặt tươi cười như di lặc, thân hình khôi vĩ như Phạm Văn Mách. Xử công phu sở trường là “Giơ Bát Tô hàng long thập bát chưởng” của Cái Bang. Trông qua, không ai biết đó là một phú gia địch thành của đất Thăng Long ngàn năm ôn vật. Thú vui tao nhã của chàng là tối tối ruổi ngựa lướt Net, mặc kệ con vật lười nhác dừng đâu chầu đấy. Một tối sau chầu cơm rượu chém gió, thần mã đưa chàng lạc vào “Men lá rượu ngô” quán. Bấy giờ Trần Đăng Tuấn sau thượng sơn Suối Giàng đang chiêu hiền đãi sĩ gầy chuyện y phục mùa đông lên núi. Thấy quần hào đường xa dặm thẳm nghênh chiến trên những con nghẽo lên lão, Hoàng Minh Hùng bèn cảm phục lắm gửi tâm thư cho văn nhân Phạm Ngọc Tiến, có đoạn:
- Tại hạ phục cái đức của người quân tử. Nay nguyện hiến một con thần mã với một kỵ sĩ cừ khôi cùng lên núi. Xin hẹn tới tuần trăng sau xin cắp tráp theo hầu.
Về nhà, than với Vương Quân Hoàng rằng:
- Ở đời, phàm thế nhân hay nói đến chuyện khó kiếm tiền. Nhưng thử “Men lá rượu ngô” rồi mới biết tiêu tiền thế nào cho xứng với chòm râu bác Minh tưởng rằng còn khó hơn bội phần.
Hùng từ đó cùng với Vương Quân Hoàng đại hiệp ngựa xe rong ruổi theo Trần Đăng Tuấn lên núi, việc bé như bỏ 9-10 triệu vạn lượng giặt ủi vạn bộ y phục gửi chúng sơn dân, việc lớn như lăn lưng ra làm cửu vạn đều một tay chàng lo cả. Chúng quần hào yêu mến tặng danh hiệu “Hùng Tổng quản”.
Chuyến đó, nhân chuyện Trần Đăng Tuấn bấm tay tính chuyện cần tới 2 tỷ quan tiền cho chuyện “cơm thịt”, Hùng về nhà bàn với phu nhân:
- Ta nghe trước nay bỏ ngân lượng vào việc trà rượu cũng coi như là việc ám sát lá gan.
Lại nói:
- Y phục ngựa xe, nay theo sờ tai Ngọc Trinh, mai đua Cường Đô la phục ngựa, e rằng cũng chỉ là cách tiêu tiền của phường trọc phú.
Phu nhân làm mặt dỗi, nói:
- Trượng phu chắc sắp bảo thiếp mở rương lấy ngân lượng đặng mang lên núi phỏng.
Hùng Tổng quản vội nói:
- Ta cưới được người vợ hiền như nàng cũng đáng được coi là bậc trượng phu vỗ ngực với đời.
Đêm đó cùng phu nhân vui thú gió trăng. Thực sớm hôm sau đã tê lê phôn reng reng cho Trần Đăng Tuấn đắc chí cười lên ha hả.
Bấy giờ có người thương nhân từ Phú Lãng Sa sang Thăng Long đàm đạo, Hùng Tổng quản liền lên face giở ảnh khoe chuyện Cơm thịt, nhân đó sử võ công “Giơ bát tô hàng long thập bát chưởng”. Thương nhân Phú Lãng Sa trúng chưởng lập tức quy hàng, nhưng cũng gắng sức tàn sử “khổ nhục kế”, nói rằng:
- Việc của các hạ là việc nhân đức, tại hạ nghèo hèn cũng xin gắng một tay. Các hạ góp bao nhiêu cho sơn nhân tiểu tử, tại hạ cũng xin góp bấy nhiêu.
Hai người bước tới nắm tay chỉ trời thề rằng mỗi người sẽ góp cho “Cơm thịt” 5000 Obama ngân lượng.
Trước lúc chia bôi, người thương nhân Phú Lãng Sa còn sử “La Hán trận”, chiêu phản dame chết người của Thiếu lâm biến thái mà nói rằng:
- Bỉ nhân không mang theo tiền mặt. Xin người cứ ứng ra trước.
Về sau, có người bàn rằng Cái Bang hệ hỏa, đã xử ra chiêu “Giơ bát tô hàng long thập bát chưởng” thì đến Thúy Yên, Nga My còn sốc dame mà móc túi moi tiền, huống hồ Thiếu Lâm. Nào ngờ gặp phải tay Thiếu Lâm biến thái khiến cao nhân sử ra tuyệt chiêu mà phải cảnh không chết cũng không sống. Cái tinh diệu của võ công gia môn có lẽ cũng là ở chỗ đó. Kẻ thắng, chỉ có thể là bọn sơn nhân tiểu tử.
Lại nói chuyện Huổi Van, khi quần hào nhóm tụ giữa bản bỗng có cảm giác bị nhìn lén. Nhưng nhìn đi ngắm lại chỉ thấy rừng trúc xào xạc, lợn mán nằm ngáy pho pho giữa đường, trâu già cong đít bắn vũ khí sinh học, tịnh không một bóng người.
LaNa cô nương lớn giọng, nói:
- Cao nhân phương nào xin hiện diện hội kiến
Chỉ thấy từ trong một căn chòi gỗ một hán tử tung mình nhảy tới. Người này mặt hẹp trán ngắn. Đôi bàn tay dấu vào nhau vẫn còn xanh lét màu chàm ra dáng một cao thủ dụng độc. Sư nữ Huổi Van thấy thế liền bước tới chào. Ra là viên thổ ty Huổi Chát.
Biết quần hào ngược núi khảo cứu chuyện sơn nhân tiểu tử, viên thổ ty mừng lắm bèn dọn chiếu đuổi ruồi mời lâm…sàng. Hóa ra Huổi Van đông bọn sơn nhân tiểu tử là vì sơn dân xứ này có thú vui tao nhã là ngự sàng từ lúc gà còn chưa quáng. Trình độ thâm canh cả ngàn năm nay vẫn chỉ là chọc lỗ đặt hạt. Tỷ như một con lợn mán nuôi bằng khí trời và nước suối một năm chỉ lên độ vài lạng. Kẻ ít dăm ba con, người nhiều đếm đến ngón thứ 11 chưa hết. Quần hào có người hỏi rằng:
- Sao đại nhân không vận động sơn dân đẻ in ít đi vài đứa
Viên thổ ty ngẩn mặt ra một lát rồi thủng thẳng:
- Cái rượu nó đẻ mà
Lại nói:
- Không có ngân lượng thì có thể nhịn rượu. Chứ con thì làm sao có thể nhịn đẻ được.
Một sư nữ sau này mới lộ chuyện chính thổ ty đại nhân cũng có tới 7 đứa sơn nhân tiểu tử, chưa tính đứa thứ 8 đang hoài thai.
Học hiệu Huổi Van cách suối Ban chừng một tầm mắt. Sáng sáng, việc đầu tiên của các sư nữ là vượt hai con suối, một ngọn núi nhỏ để gọi trò tới trường. Người nào người nấy, vì thế, khinh công trác tuyệt, có thể gọi không ngoa là vạn lý quần hành. Trần Đăng Tuấn vào ngó tận nơi, thấy học hiệu chỉ là những căn chòi lá tênh hênh gió lùa tứ phía thì thương cảm lắm. Mùa đông khắc nghiệt trước mắt, biết bọn sơn nhân tiểu tử chống phong phòng hàn bằng cách nào. Nhân đó mới nói với chúng quần hào rằng sẽ quyết bỏ tâm lực xây cho kỳ được học hiệu mới thôi.
Trên đường xuống núi, ngang suối Ban, 3 sư nữ cắn ngón tay cười lên khanh khách rủ Dương Thượng Cường xuống suối tắm chơi. Chàng công tử hào hoa đất thần kinh cao hứng toan dừng ngựa, bắt gặp ánh mắt lạnh như băng của Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến cô nương chợt như ngọn kỳ vô phong đỏ mặt tía tai lắc đầu nguầy nguậy.
Trong tên chàng, cả 3 chữ đều là chí dương. Nhưng đúng là: Danh “thất” hư truyền. Càng nghĩ càng thêm xấu hổ.
Sau này đổ đèo Pha Đin còn bị “vạn độc thực tâm”của Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến cô nương ám toán suýt cả người lẫn la lao xuống vực. Nhưng đó là chuyện sẽ nói về sau.
Chợt có ngựa lưu tinh phi đến báo tin Phân hiệu của Sông Đà tiêu cục ở Mường Tè gửi lời hội kiến.
Bấy giờ, quần hào đã dỡ xuống toàn bộ hàng hóa, người gọn, ngựa nhẹ quyết ngược lên Huổi Chát, hẹn nhau sau đó sẽ thăng sơn đại chiến quần hùng Mường Tè.
Cuộc đại chiến này vạn phần hung hiểm. Muốn biết quần hào thi triển môn công phu gì, xin xem hồi sau sẽ rõ.

Cơm ký- Hồi 6
Trần Đăng Tuấn tửu chiến quần hùng
Hùng Tây Bắc ngược đường thiên lý
Lại nói bấy giờ quần hào nai nịt gọn ghẽ bỏ ngựa thi triển cước bộ leo núi quyết đến Huổi Chát cho kỳ được. Chuyến này đi hung hiểm bội phần. Đường núi cheo

leo, một bên vách đá dựng đứng, một bên vực sâu vạn trượng. Đường rộng chỉ độ một cánh tay, lún trượt bất cứ lúc nào.
Vương Quân Hoàng đại hiệp tiễn LaNa cô nương đến tận chân núi, ngậm ngùi nhìn sóng nước Đà giang mà cảm khái rằng:
Phong tiêu tiêu hề, Đà giang hàn
Hiệp nữ nhất khứ hề, phục hoàn lai?
Dịch nghĩa:
Gió sông hiu hắt, nước sông Đà thật lạnh
Hiệp nữ ra ra đi, biết sẽ trở về?
LaNa bấy giờ cảm động trước cỗ lòng nhưng vẫn khảng khái:
Đa tạ người quân tử. Ý tiện nữ đã quyết, xin hẹn người ở Sông Đà tiêu cục. Nhớ phần cho tiện nữ một tô huyết tương với vò Nhất Tam Bát tửu.
Lại ngoảnh mặt đi mà nói:
Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.
Đoạn kéo mão, che mặt, dương kiếng nhấc chân tiến lên núi.
Bấy giờ dẫn đường là một hán tử Mông tạng lưng gấu tay cọp cưỡi trên một con thú lạ nửa giống như ngựa, mình đỏ như máu lại có sừng và mọc dâu như dê. Y nhất quyết đòi chở hai hiệp nữ ngược núi. Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến nhìn con thú, ngó mặt gã hán tử, lại liếc nhìn vực sâu vạn trượng lè lưỡi lắc đầu. Nàng vỗ 3 cái vào gặp trường túc, ra ý “trường túc bất chi lao”. Hán tử Mông tạng lại quay sang vời LaNa. Nàng vốn chỉ giỏi thủy tính, bấy giờ đã vừa qua một con dốc cao tam khiếu đang thi nhau thở. LaNa không đợi mời thêm lần nữa, nhảy phắt lên sau nhắm tịt mắt, vòng tay ôm cứng eo lưng hán tử. Con thú lạ hộc lên một tiếng lao vút lên núi.
Trong chúng quần hùng có người lãng tử gọi là Hung Tu Cam, ngoại hiệu là Hùng Tây Bắc. Nghe đồn lúc mới sinh cả người co quắp, tay chân ôm chặt một thứ dài cỡ hai gang tay, có màu đen như thép. Người nhà cậy mãi mới ra. Thì ra đó là một chiếc chân chống cào cào. Về sau nhân chơi hồ Lục Thủy, có vị thầy bói trông thấy quý tướng mới phán rằng: Công tử đây có số đào hoa, năm tròn chín chục tuổi thế nào cũng cưới được mỹ nữ đệ nhất Thăng Long. Hiềm một nỗi kiếp trước phi ngựa chót đạp gẫy chân 4-5 kẻ thường dân nên kiếp này phải sống đời “đánh bóng mặt đường” để trả oán.
Hùng sau quả nhiên trở thành tay tứ chiếng thường cưỡi cào cào, chở sau lưng một nàng mỹ nữ, ngang sông dọc núi, miền biên viễn Tây Bắc thuộc như lòng bàn tay. Có bận ngồi bên bậc thềm nhà vua mèo Vương Chí Sình xứ Đồng Văn dạng chân khuỳnh tay mà bàn rằng: Công hầu, khánh tướng âu cũng chỉ là một đời người. Sao phải tự giam mình trong màn gấm chiếu nhung. Hùng phiêu bạt giang hồ được mười ba, mười bốn năm, thiên lý hài in dấu khắp miền biên viễn, hái gió bẻ trăng gây ân oán tình trường cũng nhiều, sau đăng sự hôn phối. Phu nhân biết Hùng tính thích gió trăng, từ bấy quản thúc tại gia, bạch y tinh tương, cổ quấn hắc nơ, sáng cưỡi nghẽo đi, chiều lê mông về, tối tối cùng phu nhân đàm đạo tính cao siêu ảo diệu của thị trường chứng khoán, luyện kim thuật, đêm đêm mới lén trốn phu nhân mò lên face post hình thủa oai hùng độc lai độc vãng, tình cảnh giống y con thần mã phải gò cương số 1 trên đường phố Thăng Long vậy.
Một tối đang xem Tivi bỗng thấy người nổi da gà. Chợt nhớ lại lần đổ dốc trên đỉnh Mã Pí Lèng, sét đánh ngang tai, trở nên ngơ ngẩn khi bị một cô nương ngã đè sấp lên người. Lại nhớ đêm trăng Đồng Văn huyền ảo cùng mỹ nhân tri kỷ đốt lửa nướng sắn, châm tửu, vui thú gió trăng giữa nương ngô. Bấy giờ, trên face lại có người hiệp nữ tung ra một cái còm hỏi mỉa: Giờ vòng 2 đã bệu ra bao nhiêu rồi. Đêm đó nắm vai sờ bụng thở dài thườn thượt, trằn trọc cả đêm không ngủ, nước mắt ướt đũng quần.
Tinh mơ hôm sau, Hùng cưỡi ngựa lướt face. Bấy giờ đất Úc Đại Lợi có người hiệp nữ là Thu Thủy cô nương đang mưu chuyện gầy dựng giỏ cơm, mới nửa tuần trăng đã gom được ngót 200 triệu vạn lượng. Hùng đi ngang tiện tay thò vào bấm like. Thu Thủy cô nương nghe tiếng Hùng đã lâu nay thấy chàng dáng vẻ phong trần, dận dưới dưới chân một đôi thiên lý hài liền bảo Hùng đưa tay ra cầm bút phất lên đó một con Gấu thảo cẩm viên. Lát lại ngỏ lời khuyên Hùng theo Gánh hàng cơm lên núi, ngõ hầu khảo sát để Cơm thịt Úc Đại Lợi chuyển ngân lượng cho Trần Đăng Tuấn giúp bọn sơn nhân tiểu tử. Hùng chợt tỉnh ngộ, răng nghiến kèn kẹt: Ta như con thần long giờ loanh quanh trong cái ao tù này mãi được sao. Hào khí trỗi dậy, chàng liền dận thiên lý hài đến rung rinh cầu Thê Húc, nhảy xuống hồ Lục Thủy tắm táp thỏa thuê làm lễ tẩy trần, ngay tối đó sắp bút để lại cho phu nhân mấy chữ “Nếu người chỉ sẵn sàng làm những điều đơn giản thì cuộc sống của người sẽ đầy rẫy khó khăn. Nhưng nếu người quyết tâm làm những việc khó khăn, cuộc sống của người sẽ đơn giản”, rồi, không một lời cáo biệt, leo lên ngựa trạm hẹn bọn quần hào ở Lai Châu phủ.
Bấy giờ, đến Đà giang, Hùng Tây Bắc ngẩng mặt nhìn đỉnh Huổi Chát chìm lấp trong mây bèn khí vận đan điền thi triển khinh công lướt lên núi. Chỉ thấy như một vệt xám, thiên lý hài đạp đá, lách thụt tiến lên phía trước.
Lại nói đến LaNa, sau khi nhắm mắt ôm sơn dân cưỡi thú lạ, chỉ thấy gió rút vù vù bên tai người thoắt bị hất tung lên rồi lại kéo hụt như rơi xuống núi. Nàng hoảng hốt, khua tay, vớ được một thứ như cái tay phanh bèn vận sức kéo mạnh. Con thú lạ dừng tức thì. Chỉ thấy gã sơn nhân Mông tạng đứng ngẩn mặt ra đó, miệng kéo phéc mơ tuya.
Chừng nửa canh giờ, những đệ nhất cao thủ khinh công đủ hỏa hầu mới leo lên đến đỉnh Huổi Chát. Trông lại ai nấy tả tơi. Hoàng Minh Hùng Hùng Quản gia mồ hôi tuôn như suối, đang vắt nước dòng dòng cái khăn tắm thứ 3. Trần Thị Nhớ Nhung Lưu Luyến mồm miệng tranh nhau thở, tay trái nhấc chân phải, tay phải nhấc chân trái. LaNa thì mặt đỏ như tương ớt đang quay nhìn gã sơn nhân Mông tạng rồi đưa ngón tay lên miệng cắn. Còn vạn lý độc hành Hùng Tây Bắc thì đang ngồi xổm, đoạn đưa đôi hài thảo lên mũi ngửi. Đôi hài vạn lý trường trinh của chàng đã vỡ làm đôi. Từ khe nứt, tỏa ra thinh không một thứ mùi hắc ám. Ra là hàng fake mết in Tàu.
Đỉnh Huổi Chát có chừng hai chục nóc nhà. Sơn dân sinh ra trên trán đã có chữ nghèo, sống cảnh nước trời điện suối, lương chỉ đủ ăn trong bảy bảy bốn chín ngày. Quần hùng bấy giờ người nối người tiến vào một căn mộc động vách lá te tua, ám khí bốc lên thum thủm. Chợt từ trong, có tiếng ụt ịt, rồi phóng ra hai con heo mán. Hùng Tây Bắc chân hài chân đất khom người cẩn trọng tiến vào. Bên trong, chỉ thấy dăm chiếc ghế long mộng vứt chỏn lọn. Ám khí chỏng chơ trên nền đất. Rành rành hai chiếc ổ rơm. Ra là một ổ heo mán.
Chợt có tiếng oanh lanh lảnh cất lên:
Đây là Huổi Chát học hiệu
Người vừa nói là một hoa y cô nương mặt lá da than. Hỏi ra mới biết là chủ nhiệm sư Huổi Chát.
Bấy giờ, đã sắp đến ngày hội độc lập và ngay sau đó là hội khai trường. Hội độc lập đã được triều đình hành cử đã được 67 mùa trăng ấy thế mà Huổi Chát còn chưa có trường để mà khai hội. Quần hùng lấy làm thương cảm lắm, trút túi tặng lại quà bánh, ngân lượng cho đám sơn nhân tiểu tử. Trong chúng, có người đa cảm than rằng: Ngẫm ra, khi mà ngày ngày sơn dân vẫn phải mò vào rừng sâu đào cây măng trúc, bẫy con thú nhỏ lo chuyện cái dạ dày thì cái chữ là thứ gì đó phù phiếm xa xỉ.
Chuyện đến đây không nói nữa, chờ ngày tái ngộ.
Quần hào người mỏi ngựa mệt đến Sông Đà tiêu cục thì ánh dương đã ngã sang chiều. Vẫn thấy có đến hai chục cao thủ của Đà Giang tiêu cục tụ thủ kiên nhẫn ngồi chờ. Trần Đăng Tuấn lấy làm cảm kích lắm cung tay chào hỏi từng người rồi ngồi phân ngôi khách vị. Nguyên chủ Sông Đà tiêu cục họ Trần, tên gọi Văn Huyên đã nhiều lần cùng Trần Đăng Tuấn lên núi hành hiệp trượng nghĩa, nay ủy thác cho viên Nhị tiêu đầu quần tụ chúng nhân hội kiến Quán chủ “Men lá rượu ngô”. Biết Trần Đăng Tuấn là cao thủ nội gia chuyên luyện Ngô tửu, bèn dặn sẵn khách môn chuẩn bị tám vò Nhất Tam Bát tửu, lại nói nhỏ vào tai: Cứ thế, cứ thế mà làm.
Rượu vừa khai cuộc, liền có người khách môn mặt đỏ bước lên nâng bát nói rằng:
Thường nghe Trần Tiên sinh đã làm đến tứ phẩm triều đình, rồi sau lại treo mão cửa Huyền Vũ. Xin được chỉ giáo.
Trần Đăng Tuấn tiên sinh nâng bát cạn liền, cao hứng ứng tác mấy câu thơ:
Rời chậu cảnh, cây ra ngoài đất bãi
Đất cằn hơn và bãi rộng hơn…
Chút gian khó của đời ta sẽ nếm
Để gần hơn bao thân phận mất còn!
Lại có người khác tiến lên nâng bát:
Nghe nói Gánh hàng cơm cao thủ như mây, phú gia như núi, bọn tiểu sinh nghèo hèn như tại hạ có thể nhập Men lá rượu ngô quán?
Trần Đăng Tuấn nâng vò rượu cạn tới đáy, đoạn hào sảng cất giọng:
Vãn sinh chỉ là người có công gầy nên Men lá rượu ngô. Quán đó thực là của giang hồ hảo hán tứ phương chung tay xây đắp. Vị anh hùng hay bậc nữ lưu hào kiệt nào muốn lên núi đều có thể tham gia. Âu cũng là vì bọn sơn nhân tiểu tử. Vãn sinh tài hèn đức mọn được quần hào yêu mến gọi là Quán chủ, thực không dám nhận.
Nguyên hảo tửu xứ Tây Bắc “Nhất Tam Bát tửu” là loại rượu được ngâm bằng rễ, thân, lá, hoa, quả của cây Anh Túc, một trong “thiên hạ ngũ độc”. Cao thủ 10 năm luyện công chỉ chịu nổi một vò. Bậc khai môn lập phái danh gia một nhà cũng chỉ được đến ba vò. Chỉ có hạng nhất lưu cao thủ mới chịu được đến vò thứ tám. Vì thế, loại thần tửu Tây Bắc này mới được gọi là Nhất Tam Bát tửu.
Lại có khách môn nâng bát, nói:
Men lá rượu ngô của Quán chủ chưa đến hai xuân đã quyên được đến hơn 3,6 tỷ quan tiền. Hạng tiêu đầu như tại hạ tháng tháng đâu có nhiều ngân lượng để làm việc thiện nguyện
Bấy giờ bỗng nghe uỵch một tiếng, Thần ẩm thực Hồ Anh bấy giờ đã quay táng ra đất. Nga Cả dớ cô nương quên vẻ nhu mì hiện nguyên hình yêu tinh. Lâm công tử thì đột nhiên cao hứng đòi cưỡi bồn cầu. Trần Đăng Tuấn tiên sinh tửu chiến quần hùng đã đến vò thứ 6, tổng cộng đã nâng chín ba hai mươi bảy bát. Thấy quần hùng xa luân chiến, Hùng Tổng quản đại hiệp bèn đứng dậy nở nụ cười di lặc:
Để tại hạ xin nhận bát hảo tửu này.
Nói đoạn ngửa cổ uống sạch. Lại nói:
Men lá rượu ngô của Trần quán chủ trước nay hữu xạ tự nhiên hương. Anh hùng trong thiên hạ thấy đồng chí đồng tâm thì một tay chung sức. Có bậc phú gia góp ngàn vạn lượng. Có người nữ sinh mỗi con trăng gửi đều đặn 50 quan tiền. Lại có nữ lưu hào kiệt từ phương xa đứng ra mở phân cục. Bọn tại hạ thay lời chúng sơn nhân tiểu tử xin nói một chữ “thanh kìu”, trọng từng manh áo cũ, quý từng cú bấm like.
Nguyên Hùng Tổng quản bấy giờ cũng đã tiếp chiến mười mấy hai mươi bát Nhất Tam Bát tửu cảm thấy đan điền nhộn nhạo, chàng bèn vận công dùng Thiếu trạch kiếm toát ra khắp các lỗ chân lông. Quần hào thấy toàn thân chàng đẫm nước, vặn áo lau trán ra cả thau mồ hôi thì bất giác cùng ồ lên một tiếng: “Lục mạch thần kiếm”.
Khách môn Sông Đà tiêu cục không chịu nổi Nhất Tam Bát tửu bấy giờ cùng đã vãn đi đến ba phần. Chợt có người bước lên, nách cặp một nguyên một vò lớn, nói lớn lên rằng:
Tại hạ công phu hàm dưỡng còn nông cạn, to gan có một lời xin hỏi thẳng Trần Quán chủ.
Chỉ thấy đó là một trung niên lưng dài vai rộng, mặt xanh như lá, tướng bụng như bụng hà mã. Quần hào biết ngay đó là một cao thủ nội gia
Trần Đăng Tuấn cung tay đáp:
Xin các hạ chỉ giáo.
Vị cao thủ nội gia liền nói, giọng vang như chuông:
Ngân lượng chi phí mỗi chuyến vạn lý trường trinh thế này Quán chủ tính toán thế nào?
Trần Đăng Tuấn nhổ râu cười ngất. Chưa kịp mở lời thì có một cô nương bước ra. Người này mặt hoa da phấn xiêm áo thướt tha thập phần xinh đẹp. Mày ngài bấy giờ nhíu lại nghiêm nghị đáp:
Tiểu nữ đi không đổi họ, ngồi không đổi tên, chính là LaNa Nguyễn.
Lại quay mặt xuống quần hào nói rằng:
Trên có Trần Quán chủ, Hùng Tổng quản, dưới có Lưu Luyến tiểu thơ. Xin nói ngay thẳng một lời là từ tàu cỏ ngựa, hũ rượu ven đường đều là tự túi bỏ ra. Gánh hàng cơm từ thủa lập nghiệp ở Suối Giàng chưa từng đụng một xu cắc mà anh hùng thiên hạ gửi Men lá rượu ngô cho chúng sơn nhân tiểu tử.
Nghe lời như dao chém đá, người trung niên mặt xanh lá liền cúi người:
Tại hạ chỉ thử một lời đó thôi, mong LaNa cô nương bớt giận. Xin chịu phạt nguyên vò này.
Nói đoạn liền ngửa cổ tu một hơi, rồi khà một tiếng, đặt mạnh hũ rượu xuống mặt bàn nói:
Tại hạ nghèo hèn cũng xin một vai làm chân cửu vạn góp sức với Trần Quán chủ.
Quần hào bấy giờ liền vỗ bàn nâng bát tán thưởng.
Cuộc tửu chiến thập phần nguy hiểm đoạn cục là bất phân thắng bại. Bấy giờ, quần hào bàn mưu tính kế để làm sao xây được hai ngôi học hiệu ở Huổi Van và Huổi Chát.
Xế chiều, quần hào rời Mường Tè về thành Thăng Long qua ngã Điện Biên, Tuần Giáo.
Bấy giờ, người đã nai nịt, ngựa đã lên cương mới thấy Hùng Tây Bắc vội vã chạy ra, Chàng hóa ra đã kịp làm lễ truy điệu cho đôi vạn lý hài tả tơi, thay bằng một đôi “tổ ong dép” vừa đi “khất thực” được.
Chuyến vạn lý trường trinh của Gánh hàng cơm đã đi qua 9 điểm trường, 3 phủ, về đến thành Thăng Long thì con xích thố của Hùng Bát Nhã báo lên rằng nó đã đi tổng cộng 1334 dặm đường. Gian nan thực không kể xiết. Niềm hạn phúc cũng thật vô bờ. Nhưng sự kết thúc chỉ là điểm khởi đầu cho những chuyến hàng xuyên biên ải của các đám quần hào võ lâm, mà rất nhiều trong số đó sẽ là những độc giả đang đọc Cơm ký hôm nay. Vì thế, thiên Cơm ký thực ra chưa có hồi kết.
La Quán Rượu chắp bút
Note: Lời tựa của Cơm ký đến dòng cuối mới kịp biên ra: Cuộc sống là một chuỗi dài những toan tính, mà đôi khi cho đi mới là cách nhận lại nhiều nhất

 

 

 

About these ads

  1. Thích cụ Đào

    Tiền bối quả nội công thâm hậu .
    Tại hạ xin bái phục, bái phục !

  2. Khách

    dài quá chiều đọc tiếp

  3. Khách

    Cuộc sống là một chuỗi dài những toan tính, mà đôi khi cho đi mới là cách nhận lại nhiều nhất

  4. Khách

    Ko gươm ko đao _ Đâm bao nhiêu người
    (huhu)

  1. 1 TTXVA | Điểm Tin Thứ Tư 24/10/2012

    [...] Cơm ký Mon, Oct 22, 2012 [...]




Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s



Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 197 other followers

%d bloggers like this: