Sủng Hoảng, có nghĩa là suối tối. Người Dao, cả chết lẫn sống, đang ở đó

Suối tối

Đi qua vùng Quang Kim, một đất trù phú với những ngôi nhà kiểu miền xuôi với hàng rào cúc tần bám ven đường, với những con suối rộng thênh thang như những ngòi nước lớn thì tới Sùng Hoảng, một thôn người Dao thuộc x• Phìn Ngan, huyện Bát Xát, Lào Cai. Đất ngổn ngang. Đường trèo lên hụp xuống. Bên đường, những lạch nước sói siết lạnh như kim châm lạnh lùng chảy như khoan vào đất núi. Phìn Ngan toàn đất núi. Đấy là cái thứ đất đỏ quạch tơi nát toàn mùn rừng, một thứ tro xốp từ cây xanh mà hễ cắm xuống là cây lúa đứng dậy, lớn lên, sinh sôi và trĩu hạt. Nhưng cũng từ trong đất ấy ẩn chứa đầy những hiểm hoạ. Hiểm hoạ trong những khối đá rắn đến mẻ quốc, đá to bằng con trâu bố, to bằng cả ngôi nhà 12 cột. Vào một đêm mưa, cả ngàn mét khối đất núi, khi đó tan rữa trong nước như một thứ nước súp bùn đặc sệt, dội xuống như thác. Kèm theo mưa không kịp vuốt mặt, những tảng đá ầm ầm lao xuống như đàn thú chạy trối chết trong cơn động rừng. 4 ngôi nhà nằm dưới những chân ruộng bậc thang đẹp như tranh biến mất trong thứ lũ đá, lũ bùn-lũ của một thiên nhiên phẫn nộ. 23 con người chết vùi trong đất tay vẫn còn cầm thìa, miệng vẫn đương bú mẹ. Đó là buổi tối ngày 13-9-2004. Đó là ngày đại tang của Phìn Ngan. Bây giờ, khu vực lũ đất vẫn toe toét, đỏ loè như máu, vết thương chưa nguôi trong lòng người Phìn Ngan và từ trong khung cảnh tang tóc ấy một cuộc sống mới lại bắt đầu với rất nhiều dang dở.

Sùng Hoảng có 46 nóc nhà với hơn 324 nhân khẩu nằm thành từng nhóm, vài chiếc một như những chiếc bát úp lêu vêu trên những sườn núi xen dưới những chân ruộng bậc thang. Sùng Hoảng, tiếng Dao có nghĩa là “Suối tối”. Tôi không được giải thích vì đồng bào lại gọi dòng nước trong đến lạnh lùng chảy ngang bản là suối tối. Bây giờ, con suối đó vẫn lặng lẽ, khi thì gầm gừ chảy. Không biết có bao nhiêu giọt nước mắt người Dao Sùng Hoảng đ• đổ xuống đó. Suối tối cũng chính là nhân chứng chứng kiến thảm họa. 8 giờ tối ngày 13-9. Bếp đ• đỏ lửa. Rượu nồng đ• rót. Những đứa trẻ đ• ập vào bầu sữa mẹ. Nhà Chảo Sành Kinh bữa đó làm cơm cúng lễ tháng bảy với 6 người trong gia đình và 7 người khách đến từ bản Trung Liềng bên A Mú Sung, cách đó độ nửa ngày đường. Dường như lễ tháng bảy là lễ “Xá tội vong nhân”, người sống cúng cho những người chết oan uổng, chết tức tưởi, chết tha phương cầu thực. Nhà bên, Chảo Díu Ngan bữa đó đi thăm rừng thảo quả cách đó một ngày đường, anh này đi cảm thấy không yên tâm nên đ• nhờ vợ chồng người em là Tẩn Mả Mẩy đến trông 2 đứa nhỏ, một đứa 8 và một đứa 6 tuổi. Bốn mẹ con nhà Lù thì đ• đi ngủ sớm. Bốn ngôi nhà dưới chân núi lúc đó có 23 người, gần chục đứa trẻ. Không ai biết chính xác chuyện gì khi cơn “động đất” xảy ra. 23 người của bản không một ai sống sót, một con chó, con gà cũng không còn. Đất đổ xuống từ những triền ruộng bậc thang đ• san phẳng, đ• xoá sổ 4 nóc nhà. Chúng tôi đứng bên triền dốc bên này nhìn sang mà không thể hình dung nổi những mái nhà lên khói, những chân ruộng bậc thang đẹp như tranh với nước biếc, non xanh, với tiếng gà, tiếng chó đ• từng tồn tại thế nào trong cái đám đất bầy hầy, toe toét đỏ đến rùng mình xoè như chiếc chổi sể của cơn lũ đất. Vết sạt bây giờ nom còn đỏ lòm như máu, chiều rộng chừng 100 m, trượt trôi xuống đến nửa cây số, hàng ngàn khối đất đá đ• vùi lấp toàn bộ 4 ngôi nhà và 23 người trong đó. Bây giờ chỉ còn lại đất, đá to như ngôi nhà, to như con trâu và màu đỏ lở lói. Trong những ngày sau đó, mấy trăm con người tình nguyện lê la và lấm lem trong mưa, trong đất nh•o để bới, để xúc, để móc, để đào để cố hy vọng tìm thấy một tia hy vọng của sự sống. Đổi lại, chỉ có những tang thương. 13 người nhà Chảo Sành Kinh được tìm thấy trong sự be bét, bầm dập, ướt át và tím tái, họ chết trong khi đang quây quần quanh mâm cơm, có những người tay vẫn còn nắm chặt chiếc muỗng ăn, có những đứa trẻ miệng còn chưa kịp rời vú mẹ. 4 người nhà Chảo Díu Ngan chết tan tác, anh lìa em, vợ lìa chồng, có những xác người đ• bị đất đá cuốn đi cách đó mấy trăm mét. Đau thương nhất chính là nhà Lù, vợ và ba con anh chết trong khi đang ngủ, những đứa trẻ vẫn níu chặt cánh tay mẹ, có lẽ chúng chưa kịp hiểu chuyện gì đ• xảy ra.

Suối tối vẫn lặng lẽ chảy. Những con nước lạnh ngắt vẫn chảy xuyên vào lòng đất. Người Dao, cũng như người Thái, không mấy khi sống xa con nước. Nước tưới ruộng, nước cho cây cối, súc vật ăn nước, nước cho lúa ngô và nước cho người. Và bây giờ, người chết cũng được táng bên bờ suối. Ngay bên bờ suối, dưới những tán cây, 17 ngôi mộ nằm sắp hàng nom u ám đến tàn nhẫn. ở những ngôi mộ ấy cỏ còn chưa kịp mọc, ở những ngôi mộ ấy vẫn còn đâu đó, phảng phất trong thinh không những tiếng khóc và mùi hương trầm trầm, nằng nặng. Trong chiến dịch tìm kiếm của bát Xát, của Lao Cai nhiều ngày sau đó vẫn còn một đứa trẻ con nhà Chảo Sành Kinh chưa tìm thấy. Đứa trẻ ấy mới được 3 tuổi, mới chỉ biết gọi cha. Bên suối, người ta đắp một ngôi mộ tượng trưng để làm lễ cúng ma cho bé. Ngôi mộ ấy cũng nhỏ bé, cũng yếu đuối, cũng vô tội, cũng cô quạnh, chẳng chứa đựng sinh linh bé bỏng trong đó nhưng như thế có khi làm cho người lớn càng đau đớn hơn. Nh Chảo Sành Kinh chết sạch không còn ai, vì thế mà có lẽ sẽ chẳng còn ai đi tìm cái thi thể bé bỏng yếu đuối của đứa trẻ nữa…

Lý Seo Dìn, người Mông, Chủ tịch huyện Bát Xát ngậm ngùi: Chúng tôi đ• có kế hoạch di dân ra khỏi vùng nguy hiểm, đ• di rồi, nhưng chưa hết. Theo chủ tịch Dìn, cả huyện có đến hơn 200 hộ với gần một ngàn khẩu, chủ yếu là người Mông, người Dao nằm trong “Khu vực nguy hiểm”. Huyện đ• “di” được hơn trăm hộ rồi. Số còn lại nằm trong diện nguy hiểm, Huyện biết, X• biết, bà con cũng biết nhưng chuyện di rời không dễ khi mà nhà cửa, tài sản, ruộng vườn, khi lối sống định canh định cư nó ở trong đầu bà con rồi. Tôi hỏi Dìn “Diện nguy hiểm” là gì. Chủ tịch bảo địa chất Bát Xát rất kém, đất đá cứ r• rời ra mỗi khi có mưa, hơn nữa, độ dốc lại lớn, nhiều khu đất có vết nứt to bằng cả gang tay, chẳng cần phải thăm dò, phải khoan địa chất cũng có thể biết được. ở Ngải Thầu, có vết nứt rộng hơn gang tay chạy xuyên mấy chục mét qua liền mấy ngôi nhà của đồng bào. Trong lịch sử, hồi năm 1976, ở Bát Xát đ• xảy sạt đất làm chết hơn 30 người. Không nói đâu xa, hồi đầu năm 2000, huyện đ• phải chỉ đạo di dời gấp cả thôn Pà Treo 57 hộ ra khỏi khu vực nguy hiểm ngay trước khi sạt lở. Tại sao lại không di dời ngay? Chủ tịch Dìn nói, không dấu được sự kìm nén một tiếng thở dài: Vấn đề là không có mặt bằng để di. Dẫu biết chậm di, sạt đất là mất tất, là chết tất.

Chúng tôi được một cán bộ huyện dẫn xuống Sùng Hoảng thăm đại diện mọt gia đình. Đó chính là nhà mới của Chảo Láo Lù. “Nhưng mà nó vừa bắt vợ nữa rồi”- anh này thông báo trước, có lẽ là sợ chúng tôi thất vọng. Chúng tôi leo đủ ba mươi bảy bậc thang đẽo trong đất, nông bằng bàn tay để leo lên nhà Lù. Ngôi nhà như một mầm xám mọc tinh tươm lên trong đất. Nhà mới, được làm bằng tiền cứu trợ nom có vẻ vuông vắn nhưng trống hoác. Vật v• ngay bên hiên là cái thứ gọi là bếp. Bếp không có lửa, thậm chí không có cả tro. Lù đang ở nhà hút thuốc lào v• trong một chiếc điếu dập vỡ chằng buộc bằng mấy sợi dây rừng. Nhà Lù có mấy bao thóc “cha gửi”, ít khoai sọ và hai can rượu. Quả thực trong nhà anh đ• có thêm một cô gái Dao mới “bắt về”, cô này cũng tên Mẩy như hầu tất cả các cô gái Dao khác. Hôm “động đất”, Lù may mắn thoát chết khi đi đổi trâu ở bên Trung Lièng Hồ. Lù có tới 4 chiếc răng vàng (Theo tục của người Dao, người có nhiều răng vàng là người sang, người có của), anh nói, giọng vẫn chưa hết bùi ngùi vì tiếc của “Mình mất một con dê mẹ mới mua sắp đẻ, hai mẹ con lợn, 10 dê, 15 lợn con, một con lợn tết nữa. Mất 20 bao thóc. Mất 5 đồng bạc trắng. Mình còn mất một vợ hai ba con nữa. Mất xong, mình chỉ còn một cái quần mặc, một cái áo mặc, mình không còn được miếng gì mà”. Sau “động đất”, Lù đ• được cấp tiền để xây một ngôi nhà mới. Cuộc sống trầy trật tay trắng ấy bắt đầu lại từ ngôi nhà còn nguyên mùi chua chua của thân cây ngâm nước suối.

Người Dao Sùng Hoảng cấy lúa trên những thửa ruộng bậc thang, mỗi nhà vài khoảnh, mỗi năm thêm một vài khoảnh, như những bậc thang từ sau nhà leo tuốt lên đến đỉnh núi. Chị Mạnh Tấn, một đồng nghiệp của chúng tôi ở báo Lào Cai hồi về Sùng Hoảng đ• ví những mảnh ruộng bậc thang ấy như những nếp xếp trên áo thiếu nữ Dao. Lù trước đây đi buôn trâu, nhà có khá nhiều ruộng. “Mấy sào- Tôi hỏi. “Mình không đo, khoảng 10 cân giống, bây giờ sạt mất rồi, chỉ còn năm cân”, Lù đáp. Đồng bào Dao không có khái niệm mét vuông, hay sào, diện tích được đo bằng “cân giống”. Từ những mảnh ruộng “chục cân giống” ấy, mỗi năm nhà Lù thu được chừng hai tấn thóc. Người đàn ông Dao 42 tuổi thậm chí không nhớ nổi tuổi những đứa con này không suy nghĩ nhiều về những sự đ• qua, về cái sống, cái chết vừa ở đâu đó quanh anh, quanh gia đình anh, hiện thực mà anh phải đối mặt, hai đứa con còn sống phải nuôi Chảo Láo Sểnh và Chảo Sử Mẩy mới là điều khiến anh phải bận tâm. Rất thật thà, Lù nói trong những thứ mất của anh, tiếc nhất là mất 5 đồng bạc trắng. Đó là những đồng bạc được cha truyền con nối từ đời này sang đời khác như là biểu hiện của một gia đình, một dòng họ danh gia vọng tộc, và chỉ truyền lại cho con trai trong nhà. Mất những đồng bạc ấy, là mất sợi dây nối với cha mẹ họ hàng “dưới suối tối”. Tôi không nhớ có ai đó đ• kể câu chuyện rằng trước khi đi chôn, “nó” (chỉ đồng bào) quyết lấy cán dao ghè đòi bằng được mấy chiếc răng vàng trong miệng người chết. Khó có thể gọi đó là sự ngô nghê của đồng bào khi chúng ta chưa từng sinh ra như họ, sống như họ, suy nghĩ như họ. ở Sùng Hoảng, có những câu chuyện làm người ta đau đớn. Khi hai mươi hai thi thể nạn nhân được tìm thấy quấn chiếu để bên rệ rừng, có một đàn ông người Dao ôm xác vợ, khi đó đ• biến dạng và không đồng ý cho an táng. Vì sao? Vì vẫn chưa có “bác sĩ áo trắng” đến lấy “chiếc vòng” (tránh thai) ra khỏi người vợ và như thế có nghĩa là ở dưới “Suối tối”, “nó” sẽ không lấy chồng, không đẻ con được. Hình như đối với người Dao, còn có một thế giới khác, đằng sau, chính xác hơn là sau khi kết thúc cuộc sống ở thế giới trần tục này.

Giữa chúng tôi đ• có cuộc tranh luận gay gắt, không hiểu sao, lại là về vấn đề đạo lý. Anh cán bộ đi cùng phàn nàn, ra ý đáng lẽ ra Lù không nên lấy vợ mới, một đứa cũng tên Mẩy- khi thậm chí mộ những đứa con, mộ vợ cũ còn chưa xanh cỏ (Tôi chứng kiến mồn một cô vợ mới của Lù, người tròn lẳn, má đỏ hây hây vẫn thi thoảng liếc nhìn chồng như si, như thẹn). Chị Mạnh Tấn không đồng ý với anh cán bộ, chị bảo đại ý biết đâu đó chẳng phải là “Liều thuốc trái tim” để “nó” còn có cái mà yêu cuộc sống vốn đ• “về mo” từ sau cái đêm 13-9 tang tóc đó. Hơn nữa, nó phải có những Mảy, những Sử nữa chứ. Không hẹn, chúng tôi bất giác cùng ngoảnh sang ngó Mẩy. Cô đang ngồi bên bậu cửa, bó gối như cách phụ nữ Dao vẫn ngồi mỗi độ nhà có khách, ánh mắt say sưa nhìn “chồng” như thể trong ngôi nhà vọc vạch toang hoác ấy chỉ có hai người họ. Trên cần cổ dẻo dai như eo hông con trâu của cô gái Dao đ• có những sợi gân xanh nổi lên, một mầm sống mới có lẽ đ• kịp nảy chồi.




    Gửi phản hồi

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: