Vì cuộc đời nhiều ưu tư quá

Chỉ cách nhà Dục Anh non cây số là nghĩa trang riêng. Từ 150 năm nay, không đếm được đã có bao nhiêu linh hồn về nước chúa. Nghĩa trang giờ đã dày đặc linh hồn. Mỗi khi táng xuống đất một linh hồn mới, các sơ phải lấy cây sắt xăm xem có dính phải cốt của các cháu đã nằm trước rồi hay không. Vậy mà lần nào cũng dính.

Sơ Telexa Nguyễn Thị Lụa 23 tuổi, người xứ Phát Diệm, đã nguyện cả đời đi theo đức tin chúa Jesu từ 6 năm nay. Ở nhà Dục anh Thánh An xứ Bùi Chu này, Sơ Lụa lãnh nhiệm vụ có thể coi là nặng nề nhất: Chăm sóc những sinh linh bại liệt, toàn thân bất toại. Khuôn mặt Sơ cực hiền lành, ánh mắt cực ấm ám, và nụ cười cực đôn hậu. Dường như là có duyên tiền định khi người xứ giáo Phát Diệm Nguyễn Thị Lụa một hôm sang thăm nhà Dục anh Thánh An- Bùi Chu này phát dạ cảm thương những đứa trẻ tật nguyền không gia đình. Cô gái chưa chồng con, chưa một lần hưởng cái tình nam nữ ở đời phát thệ, tình nguyện ở lại nhà Dục Anh, trở thành một tu sĩ thuộc dòng tu kín Mân Côi nguyện dâng cả đời cho Chúa, khi thì hóa thân trong vai người mẹ chăm sóc những đứa trẻ không hề biết quê hương, bản quán, khi trở thành người cha nắn từng nét chữ cho trẻ không mẹ không cha.

Người ta không gọi là cô nhi viện mà gọi là nhà Dục Anh. Thiếu tá Lâm, Phó trưởng Công an Huyện Xuân Trường giải thích- Còn Thánh (Saint) An, là lấy theo tên Giám mục An, người đã lập ra nhà Dục anh này từ hàng trăm năm trước. Tình hình tôn giáo ở Xuân Trường, thiếu tá Lâm thuộc như lòng bàn tay. “Ở đó toàn là trẻ mồ côi bị bỏ rơi?” Tôi hỏi. “Không hẳn thế. Còn nhiều hoàn cảnh, nhiều thân phận khác. Các anh xuống sẽ biết”- Lâm nói. Nhà Dục anh Thánh An không có dáng dấp một nhà tu, tôi nghĩ thế, lại càng không có dáng dấp một nhà trẻ. Nom có vẻ giống như một trạng trại thôn giã của một gia đình tập thể. Điều làm người ta nhận ra đây là một nhà Dục Anh chỉ là cây Thập tự giá cao phía trên dốc cây hoa đại cổ thụ, nơi, theo Kinh Thánh, Đức chúa gim mình cứu chúng sinh với dòng chữ  la mã INRI (Bản án) định mệnh và tiếng trẻ con trong trẻo lau nhau, chiêm chiếp như tiếng gà con rất đỗi dễ thương. Chiều ấy là buổi bọn trẻ trong nhà Dục Anh đón nhận phần thưởng của Công an tỉnh Nam Định. Không rõ đã có từ bao giờ đã có một “giao kèo”: Cứ cháu nào học lên được lớp 10 là Công an Nam Định sẽ tặng toàn bộ sách vở, giấy bút vào đầu năm học mới. Thật khó có thể tưởng tượng được từ nơi đây những đứa trẻ lớn lên, đi học cùng chúng bạn “ngoài đời”, và sau này có một gia đình riêng, một cuộc sống riêng. Năm nay có 3 cháu lên lớp 10 được Công an thưởng sách, được cha linh mục Phạm Ngọc Oanh thưởng xe đạp mini. Lớn bé lộn xộn, áo quần hoa lá, Bọn trẻ lau nhau hát, lau nhau vỗ tay, lau nhau nhìn ngó và lau nhau cười. Ở đó, toàn những sứt môi, hở hàm ếch. Toàn những tay chân vẹo vọ, nụ cười vẹo vọ, hình hài vẹo vọ của những số phận vẹo vọ. Nhưng ánh mắt thì vẫn là ánh mắt của trẻ con, trong như sương sớm. Tiếng cười vẫn là tiếng cười của trẻ con, không chút lo toan. “Thưa cha! Trong giấy khai sinh của các cháu phần cha mẹ, quê quán ghi thế nào ạ”- Tôi hỏi khẽ khàng hỏi. Cha Oanh, nom như một ông già trí thức đôn hậu với mái tóc bạc trắng trả lời, giọng  ấm áp: “Tôi đây. Phạm Ngọc Oanh. Đứng tên cha. Còn quê quán ư. Đó là điều làm chúng tôi đau lòng. Các cháu ở đây cứ hỏi đến quê là chúng nó khóc”. Chẳng đứa nào có một cái tên quê. Chẳng đứa nào có một cái tên riêng khi vào nhà Dục anh này. Ngay dưới gốc Fatina cổng tòa giám mục Bùi Chu sớm trước bỗng vang lên tiếng trẻ con khóc. Một đứa bé gái tóc đen như mun, da trắng như tuyết, môi đỏ như máu với hình hài một thiên thần ngồi khóc ở đó. Sơ Telexa Tươi (hay một sơ nào đó) đã ra đón. Hóa ra đứa bé bị liệt toàn thân. Không nói được. Nó bị bỏ rơi dưới gốc Fatina, nơi nghỉ ngơi của các thiên thần. Cháu chưa được đặt tên. Bây giờ, đứa không tên ấy ở chung trong phòng “bại liệt”. Một gian phòng nhỏ sạch sẽ có mấy đứa trẻ nằm sắp hàng. Bạn của nó là cháu Thơm- 5 năm, Đại -10 năm, Thư- 3 năm, và Ngọc- 5 năm. Ở nhà Dục anh Thánh An, các sinh linh được tính theo năm đến vì không biết tuổi thật. Cả 5 đứa đều bị bại liệt, bị úng thủy. Có hai cháu sống đời thực vật, không nói cười, không cử động. “Cháu đó có lẽ sẽ mất vào tháng tới cháu yếu lắm rồi”, Sơ Tươi hướng ánh mắt về phía “Không Tên” nói. Giọng nói của Sơ, thật kỳ lạ, vô cùng thanh thản. “Không Tên” chưa phải là trường hợp đáng thương nhất bởi còn có những sinh linh được đưa đến, nói đúng hơn là bị bỏ rơi khi chưa đầy một ngày tuổi. Telexa Lụa sẽ sàng đưa bàn tay nhỏ mềm như chiếc lá cây đại ngoài sân xếp lại nếp áo cho từng đứa. Bàn tay ấy dịu dàng đỡ cho những sinh linh tật nguyền trở mình. Bàn tay ấy khe khẽ xoa lưng cho những đau đớn dịu dần trong giấc ngũ. Và bàn tay ấy cũng đã từng vuốt vuốt lên những cặp mắt không bao giờ mở nữa. Bàn tay của Sơ Lụa là bàn tay đầu tiên đón những đứa bé bệnh nặng bị bỏ rơi và cũng là bàn tay cuối cùng đứa chúng về nước chúa. “Cha mẹ chúng thật đáng trách. Họ có bao giờ về đây thăm lại đứa con đã bị bở rơi không? Thưa Sơ?” Sơ hỏi lại tôi: Nếu “người” thì “người” sẽ làm như thế nào? Ánh mắt đôn hậu như có ở đó một nụ cười. Tôi đã mất ngủ vì ánh mắt và nụ cười diệu vợi ấy. Dường như từ lâu lắm, tôi chưa bao giờ đặt mình vào hoàn cảnh những người mà mình đã lên án. Chưa thấy hết được nỗi khổ tâm, những góc khuất của cuộc đời thực sự bằng lòng vị tha, không trách cứ, và sự cảm thông. Rất nhiều, rất nhiều những sinh linh khi sinh ra đã phải chịu sự đày đọa, sự bất công của số phận khi mắc bệnh nặng, hoặc bại liệt, hoặc thần kinh. Ở nhà Dục anh Thánh An thậm chí còn có một phòng riêng dành cho những đứa trẻ bị bệnh thần kinh. 3 trong số đó là những nạn nhân của chất độc màu da cam. “Cha chúng là bộ đội từng chiến đấu ở chiến trường B. Nhà có 3 đứa con trái thì cả 3 đứa đều nhiễm chất độc màu da cam. Nhà quá nghèo, người cha đến đây xin gửi con trong nước mắt”- Tôi được giải thích. Đó cũng là trường hợp duy nhất những đứa trẻ có mẹ, có cha, có số phận, hoàn cảnh, có quê hương bản quán và có cha mẹ đến thăm. Còn lại là bệnh trọng. Đấy là những sinh linh mắc bệnh không thể khỏi. Cơ thể không phát triển được. Mắt không nhìn được. Miệng không nói được. Và đã ngã bệnh là không đứng lên được nữa. Tôi thấm rắng có những số phận vừa mới sinh ra đã rơi vào đường khổ ải. Thì chẳng lẽ vừa mới sinh ra đã bị  bỏ rơi, mang danh “không tên” mà còn là sung sướng hay may mắn được ư. Và rất nhiều, rất nhiều trong số chúng đã về bên nước chúa khi chưa kịp lớn lên thành người. Chỉ cách nhà Dục anh non cây số là nghĩa trang riêng. Từ 150 năm nay, không đếm được đã có bao nhiêu linh hồn về nước chúa. Nghĩa trang giờ đã dày đặc linh hồn. Mỗi khi táng xuống đất một linh hồn mới, các sơ phải lấy cây sắt xăm xem có dính phải cốt của các cháu đã nằm trước rồi hay không. Vậy mà lần nào cũng dính.

Trên bức tường chính nhà làm việc của cha Oanh có treo một bức ảnh cha Oanh chụp chung với Đức giáo hoàng Joan Paul II khi ông đến thăm Vatican . “Ngài đã chúc lành cho công việc của chúng tôi”. Cha Oanh cũng như các sơ luôn tin rằng mọi việc đã được đấng bề trên đã an bài, nhưng chính họ, để nuôi sống mình và hơn 60 cháu bé mồ côi, đã phải tự nỗ lực lao động cật lực. Nhà Dục anh có 3 mẫu ruộng, có trại chăn nuôi lợn, có xưởng dệt chiếu, nhưng chừng đó dường như vẫn chưa nuôi nổi đủ 100 miệng ăn. Cha Oanh: Nhà làm được 27 tấn thóc, thế mà vừa rồi vẫn phải đong thêm 20 tấn nữa. Thiếu thốn, giật gấu vá vai.

Cha Oanh, thụ phong linh mục năm 1963, và đã 41 năm làm linh mục,  nhớ tên từng đứa một trong hơn 60 đứa con của ông. Và, ông luôn gọi cô nhi viện là “Nhà của chúng tôi”. Ông đi khai sinh, đi xin học cho từng đứa một, lại đưa các con lên tận Hà Nội để vá hàm ếch. Lo tất, những cái đó chỉ mệt mỏi phần xác thịt thôi. Nhưng có lẽ điều làm cha bối rối là khi những đứa con của ông dần dần lớn lên, biết phân biệt, biết so sánh mình với những đứa trẻ khác. Đứa nào cũng hỏi ông một câu hỏi vì sao: “Bố ơi, Vì sao con ở đây”! Cha Oanh dừng lại, không nói tiếp nữa. Không thể có một câu trả lời chung cho tất cả những đứa con của mình. Đã có một bài thơ mang tên “Vì sao?!” được làm từ chính nhà Dục anh này. Có câu: “Vì sao ta lại nhìn cuộc đời/ Vì cuộc đời nhiều ưu tư quá”. Cha Oanh nhanh chóng chuyển sang chuyện khác. Vừa hôm rồi, có hai cháu đã được nhận tiền lương từ nhà máy may Phú Nhai. 250 ngàn đồng. Đó là đồng tiền đầu tiên những chúng kiếm được. Chúng đưa về đưa cho bố Oanh để bố nói rõ cho cả nhà cùng biết. Chỉ mong những đứa bé lớn hơn để có thể tự trả lời câu hỏi mà tự chúng cũng không muốn được trả lời. Câu hỏi mà cha Oanh của chúng khó có thể trả lời thay.

Ở nhà Dục Anh Thánh An- Bùi Chu này đời ở trong đạo và đạo hiển hiện trên số phận mỗi con người. Có những thân phận éo le nhưng không có tiếng thở dài, không có lời oán thán. Thiếu tá Lâm kín tiếng trong suốt quãng thời gian lẳng lặng dẫn chúng tôi đi thăm nhà Dục anh, khác hẳn với phong thái của anh khi nói chuyện công việc. Khi lên xe ra về chúng tôi mới biết anh đã từng đi chiến trường và cũng có 3 đứa con nhiễm chất độc màu da cam. Hai trái, một gái và chúng nằm đau đớn như những cục thịt vẹo vọ. Nhưng thiếu tá Lâm đã không để con miình phải chịu thêm một sự bất hạnh nữa như những đứa trẻ nhà ở Dục anh này. Nỗi bất hạnh không có quê hương bản quán. Luôn tự hỏi câu hỏi “Tại sao”.

Advertisements



    Trả lời

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

    Google photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: