Nhìn lại “Thất trảm sớ”

Thất trảm sớ

Tại hạ trên Blog của mình xin mở một mục gọi là “mỗi tuần một vĩ nhân”. Đưa ra mấy lời bình lăng nhăng giữa những gì họ nói và việc họ làm. Mọi ý kiến giải chỉ là ý kiến cá nhân. Sự này chỉ là để làm bận mình. Anh em ai biết gì về các nhân vật thì bớt chút thời gian comment hoặc viết bài góp ý. Xin mở đầu bằng bài về cụ Chu Văn An và Thất trảm sớ của cụ

Lê Tung, trong Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận, đã khen Thất trảm sớ của cụ Chu Văn An rằng:

Thất trảm chi sớ

Nghĩa động càn khôn,

Vạn ngôn chi thư,

Trung quán nhật nguyệt”

(Dâng thư chém bầy ác ôn,

Oai phong chấn động, càn khôn kinh hoàng,

Lời văn trùng điệp hàng hàng,

Sáng như nhật nguyệt,

ẩn tàng thuyết minh”.)

Nhưng hoá ra, Lê Tung chưa hề được nghe qua về Thất trảm sớ. Và không chỉ Lê Tung, không một ai, ngoài vua Trần Dụ Tông và cụ Chu Văn An biết Thất trảm sớ viết những gì, 7 tên gian thần trong đó là ai.

Trong 175 năm triều Trần, mà thực ra trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam, Trần Dụ Tông là một hôn quân ác và lạ . Câu đầu tiên về Trần Dụ Tông được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau “Mùa Thu, tháng 8, ngày 15, ban đêm, con của thượng hoàng là Hạo đi thuyền chơi Hồ Tây, chết đuối, tìm thấy xác ở trong lỗ cống đơm cá. Thượng hoàng sai thầy thuốc là Trâu Canh cứu chữa. Canh nói:  “Dùng kim châm thì sống lại, chỉ sợ sau này bị chứng liệt dương”. Lấy kim châm quả đúng như lời nói.

Ngày 21 tháng 8 năm Tân Tỵ (1341), hoàng tử Hạo lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiệu Phong.

Chưa nghe thấy chuyện chết đuối mà dùng kim châm có thể sống lại, nhưng chuyện Dụ Tông bị liệt dương thì chắc có. Năm 13 tuổi, Dụ Tông lấy công chúa Ý Từ là con gái thứ 4 của Bình chương Huệ Túc vương phong làm Nghi Thánh Hoàng hậu nhưng không hề có con.

Triều Trần, trong 28 năm dưới thời Dụ Tông đã xảy ra nhiều biến cố, thậm chí nhiều sự quái đản.

Theo Đại Việt sử ký:

Mất mùa, đói kém, nhân dân nhiều người trộm cướp, nhất là gia nô của các vương hầu. Mùa hạ thì đại hạn. Mùa thu thì nước to. Người Ai Lao quấy nhiễu biên giới. Đinh hợi năm thứ 7, có nhật thực. Tân Mão năm thứ 11, người Thái Nguyên và Lạng Sơn tụ họp đi ăn cướp và đánh lẫn nhau.

Mùa thu tháng 7 nước to người con gái ở Thiên Cương trấn Nghệ An biến thành con trai. Vỡ đê Bát Khối. Mùa thu tháng 9, có sâu lúa. Chiêm Thành đến cướp châu. Mùa đông tháng 11, có con hổ đen xuất hiện ở trong thành

Ất Mùi năm thứ 15 có động đất. Mùa hạ đại hạn. Mùa thu mưa to nước lớn. Tháng 9 sét đánh cửa Triều Nguyên và hai cửa Tả Hữu dịch

Bính Thân năm thứ 16. Mùa xuân, hai mặt trời rập rờn nhau

Năm Canh tí (1360) đúc tiền Đại Trị thông bảo, xuống chiếu bắt gia nô cảu các vương hầu công chúa phải thích chữ vào trán. Sao chổi mọc ở Đông Bắc, vua tránh không ngự ở chính điện. Giặc Chiêm Thành cướp cửa Hạ Lý. Chiêm Thành lại đến cướp ở Châu Hoá

Cũng trong thời này, những chuyện ăn chơi, chém giết của Dụ Tông được ghi lại rất rõ trong chính sử.

Năm Nhâm Dần, nhà vua chiêu tập nhà giàu trong nước ở Đình Bảng, Nga Đính vào cung đánh bạc. Có tiếng bạc đặt gần 300 quan tiền. Võ sĩ Tạ Lai bị giết vì tội xem gươm. Bảo uy vương Hiến chỉ vì tội trộm áo, bị sai giết ở sông Vạn Nữ.

Tháng 10 năm Quý Mão (1363) vua bắt dân đào hồ Lạc Thanh, sai người ở Hải Đông chở nước mặn chứa vào để nuôi các hải vật như đồi mồi, cá mú. Lại sai người ở châu Hoá chở cá sấu đến thả…Thậm chí khi cho gọi Bùi Khoan vào cung uống rượu, vì họ Bùi lập mẹo uống hết 100 thăng, vua thưởng tước 2 tư (chưa tra được đó là cái gì. Thăng chức quan chăng?)

Năm Kỷ Dậu (1369), Trần Dụ Tông mất lúc 34 tuổi với tâm trạng u uất không có con nối dõi tông đường.

Trong chính sử, ghi đây là thời kỳ suy vi của nhà Trần. Xã hội rất nhiễu nhương. Dân tình đói khổ. Gian thần nổi lên, o bế vua để lộng hành. Nhiều trung thần nghĩa sĩ bị làm hại. Các quan ngự sử vốn chuyên lo việc can ngăn vua nhưng cũng không làm theo. Đại Việt sử ký chép lại chuyện này như sau:

Doãn Định và Nguyễn Nhữ Vi làm sớ kháng nghị là thượng hoàng không thể vào ngự sử đài, lời lẽ rất kích thiết. Thượng hoàng bảo trước mặt rằng “Ngự sử đài là một nơi trong cung điện, có cung điện nào mà thiên tử không được vào…Ngày xưa Đường Thái Tôn còn xem Thực lục, huống chi là vào đài”. Bọn Định còn cố cãi mấy ngày không thôi. Vua dụ bảo hai ba lần cũng không thôi. Đều bị cách chức cả.

Thất trảm sớ được Chu Văn An dâng trong bối triều loạn như vậy.

Đến nay, không có bất cứ tài liệu nào nói gì về nội dung Thất trảm sớ, cũng không ai biết 7 gian thần trong đó là những ai.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải, trong cuốn “Vương triều sụp đổ đã “chọn” được ra 7 cái tên có thể có tên trong Thất trảm sớ. 7 cái tên mà Hoàng Quốc Hải chọn là có thật trong lịch sử nhưng “Vương triều sụp đổ” thì là một cuốn tiểu thuyết.

Nói như Ngô Sĩ Liên “việc này không gì đối chứng nhưng cứ hẵng chép tạm ra đây đã”.

1- Hoạn quan chi hậu cục Mai Thọ Đức, kẻ cai quản phi tần và tuyển chọn mỹ nữ, đã lạm dụng chức quyền bắt về vô số con gái nhà lương dân. Để nhiều người chết trẻ, chết già vì mòn mỏi trong cung thất; lại bày ra các trò dâm ô trác táng dẫn Hoàng thượng vào con đường vô đạo.

2- Trâu Canh, viên ngự y phạm tội làm cho Hoàng thượng liệt dương từ năm 3 tuổi, lại bày trò phục dương cho bề trên khi 15 tuổi. Y đã bắt cóc 21 đứa trẻ khỏe mạnh con nhà lương dân, giết đi lấy mật làm thang cho bài thuốc hồi dương của quan gia. Rồi y bày trò cho quan gia thông dâm với chị ruột mình, nói là phương thuốc chữa trị. Trong khi chữa trị cho quan gia, y lại thông dâm với cung nhân của chính quan gia. Trâu Canh là người Hán, cháu nội Trâu Tôn đi theo quân nhà Nguyên vào xâm lược Đại Việt, năm Ất Dậu (1285) thất trận bị quân Đại Việt bắt, y đã xin hàng, lại xin được cư trú. Nay Trâu Canh lộng hành, dẫn dắt đức vua vào con đường thương luân bại lý.
3-  Bùi Khoan, Chính chưởng phụng ngự. Y bày trò cờ bạc rượu chè dơ dáy ngay trong cung thất, dẫn đức vua vào mê lộ, bê tha như đám dân đen ngu muội.

4- Văn Hiến hầu can tội gây bè đảng khiến các đại thần chia rẽ, ngờ vực lẫn nhau, làm cho đức vua khó phân biệt người ngay kẻ nịnh.

5- Hành khiển tả ty lang trung Nguyễn Thanh Lương, xảo trá, dẫn vua vào con đường ăn chơi xa xỉ, tới cạn kiệt quốc khố.

6- Hành khiển hữu ty, hữu bộc xạ Tâm Đức Ngưu đồng lõa với Nguyễn Thanh Lương tìm đủ mọi cách tăng thu thuế khóa, tăng các sắc thuế từ thượng cổ chưa từng có, để bòn rút của dân, lấy tiền chi vào các cuộc ăn chơi trác táng của hoàng thượng. Kể cả những năm mất mùa đói kém, dân chết đói đầy đường, chúng cũng không tha giảm.

7- Đoàn Nhữ Cẩu, Đồng binh chương sự, bòn rút khẩu phần của lính, các đồ binh khí đã cũ hỏng vẫn không chịu thay thế, để lấy tiền công bỏ túi. Y sao nhãng việc luyện tập canh phòng biên cương phía Bắc, phía Nam gần như bỏ ngỏ.

Sau khi dâng Thất trảm sớ Chu Văn An đã “treo mũ ở cửa Huyền Vũ”, lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh.

Ngô Sĩ Liên bàn: Từ khi Chu An đi rồi thì không còn ai lấy lẽ phải mà bảo cho nữa. Bảo rằng “Không tin người nhân hiền thì nước như không có người”, đúng thế đấy.

Có hai điều đáng bàn qua vụ Thất trảm sớ.

Thứ nhất, việc dâng sớ can vua được ca ngợi là “Cái Dũng của nhà Nho tiết tháo không sợ uy sấm sét của cường quyền. Cái Nhân của kẻ sĩ đã tả thành Văn để thảo nên một chương thất trảm làm cho quỷ mị kinh hoàng”. Thì sau khi không được Dụ Tông đoái đến, cụ Chu đã ngay lập tức về núi ở ẩn. Ở ẩn, cụ giữ được tiết tháo, giữ được trí của nhà nho, được tiếng là hiền tài, nhưng thực ra, cụ vì bản thân cụ chứ không còn vì dân nữa. Lưu ý khi đó Chu Văn An có tới ba học trò là đại thần trong triều là Phạm Sư Mạnh và Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn.

Hãy thử khảo lại bài Miết Trì của cụ Chu:

“Thuỷ nguyệt kiều biên lộng tịch huy,

Hà hoa, hà diệp, tĩnh tương y.

Ngư phù cổ chiểu, long hà tại?

Vân mãn, không sơn hạc bất quy!

Lão quế tuỳ phong hương thạch lộ,

Nộn đài trước thuỷ một tùng phi.

Thốn tâm, thù vị như hôi thổ,

Văn thuyết Tiên hoàng lệ án huy”.

Được dịch là:

Bên cầu, trăng nước chiều tà,

Cánh sen chen lẫn hoa ngà tựa nhau.

Cá bơi, rồng ẩn nơi nao?

Mây treo núi trắng, hạc sao chưa về?

Quế già thơm ngát đường đê,

Rêu non đẫm nước khôn che cửa hàn.

Lòng son thấm đất chửa tan,

Nghe Tiên hoàng, lệ muốn tràn lên mi”.

Phải chăng là tấm lòng son ấy đã héo úa trong nước mắt?

Sau khi Chu Văn An mất, vua Trần Nghệ Tông đặt cho cụ tên thuỵ hai chữ “Văn Trinh” được thờ ở mé tả Khổng Phu Tử trong Văn Miếu. Ngô Thế Vinh, một học giả nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phương Sơngiảng hai chữ “Văn Trinh” như sau: “Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chỉ chính cổ dã” (Văn là sự bên ngoài của đức; Trinh là tính chính trực, kiên địch của đức). Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định.

Điểm thứ hai qua vụ Thất trảm sớ, là hầu hết các danh sĩ, học giả, nhà thơ, giới sử học sau này đều đã ca ngợi Thất trảm sớ khi mà thậm chí chưa từng biết về nó. Điều này giống y hệt như nhiều thế hệ học sinh của nhiều thời lắc đầu lắc đít ê a học thuộc lòng bài học ca ngợi sự dũng cảm của ngọn đuốc sống Lê Văn Tám mà giờ mới được tiết lộ là bịa đặt trắng trợn.

 

Đọc thêm

Danh sĩ Nguyễn Văn Lý luận về Thất trảm sớ rằng:

“Thất trảm vô vi tồn quốc luận, Cô vân tuy viễn tự thân tâm”.

(Thất trảm sớ không được thi hành, cả nước bàn luận. Đám mây lẻ loi tuy xa vẫn tự có tinh thần trong lòng)

Cao Bá Quát có bài

Vịnh Chu An

“Kính tiết thanh tu khí phách dương,

Dịch tương chích thủ vãn đồi dương,

Lôi đình bất tỏa cô trung phẫn,

Quỉ mị do kinh thất trảm chương.

Hạo khí dĩ bằng thiên địa bạch,

Cao phong do đối thuỷ sơn trường.

Lâm tuyền cựu ẩn kim hà tại?

Văn miếu duy dư tính tự hương”.

Được dịch là:

“Tiết sạch lòng son chí dũng cường,

Muốn đem tài sức néo tà dương.

Sấm uy khôn chận người trung phẫn,

Sớ trảm kinh hoàng lũ quỷ vương.

Khí thế tràn dâng, trời đất ngát,

Gió cao thổi lộng núi sông trường .

Ẩn cư rừng suối nay đâu biết,

Văn miếu tên truyền tụng khói hương”.

Ngoài ra còn có chuyện, hình như là “Học trò thuỷ thần” để ca ngợi đức độ của Chu Văn An

Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học. Trong đền thờ thần còn đôi câu đối khá tiêu biểu ghi lại sự tích này.

Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận. Thu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô.

(Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải. Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa).

Phan Huy Chú sau này đã ngợi ca Chu Văn An: “Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”.

Advertisements



    Trả lời

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: