Bài phóng sự tai hoạ của tôi

Quê hương  tôi  tự nó  đã  cao  rồi

Đây là bài phóng sự tôi viết khi đang học năm thứ 2 trường báo. Đây cũng là bài phóng sự mà vì nó, tôi suýt bị đuổi khỏi trường. Hôm đó, tôi đang ở trong lớp học thì bị gọi lên văn phòng khoa. Ở đó, tôi dúm dó trong những ánh mắt toé lửa, những khuôn mặt hằm hằm của một đám quan chức Hà Giang. Cả Công an, kiểm sát, và tuyên giáo, báo, đài. Những tưởng họ trói nghiến tôi lại đưa về Hà Giang ngay khi ấy.

Một thầy phó khoa sau đó nằng nặc và kiên quyết đuổi cổ tôi. Nhưng cũng may, còn có những người rộng lượng hơn. Tôi sẽ không bao giờ quên được sự rộng lượng đó của Thầy. Và đây là từng chữ được post lại nguyên văn trong bài phóng sự đó

Không đi  thì chẳng thành quê

Muốn  lên Lũng Cú, muốn về Khau Vai

Trước khi  khoác túi lên cao  nguyên, tâm trí  tôi  chỉ vỏn vẹn  mấy câu  thơ của  anh  bạn  phóng viên báo  Văn Hóa. Và thêm nữa, hình ảnh  của  một thị  xã vùng biên xinh đẹp, nằm vắt vẻo  hai  bên bờ sông Lô; hình ảnh của  những  cô  sơn  nữ  e thẹn nép mình bên vạt ngô bên đường. Nhưng  còn có những điều  tôi  chưa biết  về hình ảnh  của  một Hà  Giang lè nhè tiếng sông Lô, liêu  xiêu  đôi  nhịp cầu  Yên  Biên và  lụt  chìm trong  thứ nước  mà  người  đời  thường gọi  tục là  rượu.

Bữa  cơm  của  tôi  ở Hà  Giang  có  điểm lý thú  riêng của  nó: Sáu  chai  rượu cho  ba thằng. Thực  ra là  hai  thằng và một ông. Nhưng đã  là  người  Hà  Giang thì khi  đã vào mâm, ông, thằng…như nhau  tuốt. Cơm  có  thịt  gà, mướp  xào và  măng chua, toàn  dạng  mồi tốt  cả. Nhưng đến  chén thứ ba của  chai  thứ hai thì ông già thằng bạn  đã bê nhầm bát nước  mắm. Thằng bạn  tôi  lè nhè triết lý: “Đời người, ngẫm ra, lúc  say  mới  là  tỉnh. Còn lúc  tỉnh thì nhìn quốc lại  hóa  ra gà”. Nhìn tôi  nhấp nhấp  chén rượu, nó mắng ngay: “Mày bỏ cái thói  tiểu tư sản thành thị  rởm  ấy đi. Người Cao  Nguyên (Hà Giang) chúng tao  ăn  rộng, nói dài, uống  cạn. Đấy là  bản sắc,…nó tự  do, phóng khoáng. Tao  về thành phố nghe tiếng chó  sủa  lách nhách, không chịu được”. Chai  thứ tư được mở  nắp. Cuộc  khẩu chiến về các  loại  rượu ngon bắt  đầu. Ông già  líu  ríu: “Tao  đi  từ Nam  ra Bắc, từ rừng xuống  biển, chưa thấy  đâu  ngon bằng  rượu Quản Bạ (Hà Giang)”. Lại  cười: “Nếch-cà phê-cờ lát sích. Vứt!Bia bọt  với  Sam Phanh hay  Dôn  diếc uống chỉ tổ nhạt mồm”. Thằng bạn  tôi  cũng  gật  gù: “Có  thế thật, tao  cũng  nếm thử Làng Vân với  Bắc Hà  rồi. Vớ vẩn cả”. Ông bố  đổ  tọt  chén  thứ ba của  chai  thứ  tư vào miệng, vỗ  đùi ông con: “Mày được, tao  thưởng cho  một  chén. Thằng  bạn  tôi  khoan thai  uống  chén rượu thưởng, bảo: “Mày không biết chứ. Hà Giang, thực ra là  tên tự của  dòng sông rượu. Cố uống đi  cho vui”. “Rượu là  tinh của  gạo  đấy! Cháu ạ!”.Ông  già thằng bạn  chỉ mời được  câu  cuối  như thế rồi từ từ gục  xuống.

Gùi đất đè nặng xuống đôi vai già nua. Đá nhọn sắc cào rách những bàn chân trần thơ bé

Hai  ngày lê la quanh  thị  xã với Nguyễn  Trọng  Tuyên, tôi “cho  chó  ăn  chè” tới  sáu bận. Người hao  đi  ít  nhất ba kg. Đâu  cũng uống rượu. Từ cửa  quan đến nhà  dân. Ai  cũng uống  rượu. Từ đàn ông  đến đàn bà, từ người già đến  con trẻ. Người  Hà  Giang  có  dáng  đi  liêu  xiêu. Rượu Hà Giang  chảy từ Nhà  Trắng  chảy xuống  sông Lô. Tôi  ngờ rằng một hớp  nước  sông  Lô  cũng  đủ làm cho  người  ta đỏ mặt, người kém tửu  lượng  có  thể đi  bằng bốn chân. Dạo  quanh  thị xã chỗ  nào cũng  thấy các  ông thần tửu, các  bà  thần tửu  nốc  rượu thay  cơm, cười nói hò hét vang  trời. Dường  như rượu là  một phần của  văn hóa  ẩm thực, là  một nửa  số máu  trong huyết quản của  người  Hà  Giang. Buổi  tối ngày thứ hai  phải dầm mình trong “văn minh rượu”, tôi  quyết  định  xin tá túc tại báo  Hà  Giang. Nói thực, dạ  dày tôi  bằng cái  chén con, hai  phát “pác phân pác” (100%) là  đủ  để  đi Hoàn Vũ không vé  khứ hồi. Nhưng có lẽ  mạng  tôi  đã đến  ngày mạt  vận, 24 giờ đêm, thằng bạn  bên đài Phát  thanh – Truyền hình lôi  chân, dí  vào mặt  tôi một can rượu tổ bố, lè nhè: “Ngủ là  chết trong đời một  ít! Dậy!Dậy!”. Xung quanh đã có vài ba ông  thần tửu mặt  vừa xám, vừa tái, vừa đỏ chờ đợi. “Lệ” của  dân văn, dân báo Hà  Giang thế là  quý lắm. Rượu rót ra. Một thi  sĩ ôm đàn hát: “Đời không  thuốc lá, chè đắng, rượu cay  đâu phải là  đời…”. Chất giọng  lâm ly hơn  Chế Linh, nào nùng hơn Hăm Lét. Một  văn nhân cao  hứng: “Đời là  một biển rượu, một núi thịt  chó và là  một  cánh  đồng bát ngát  rau  thơm…”. Lại bảo, trong  đời có lẽ  sướng nhất  là  thằng cha Lý Bạch, vừa là “tiên thơ”, vừa là  “tiên tửu”. Lại  than: “Nghĩ nhiều khi  như Lưu, Nguyễn  ngày xưa, hay  chí ít cũng là Chí  Phèo…cũng sướng”.

“Bầu cạn  rượu, đường  xa thêm…”Vứt, thằng Tuyên cáu – Tay  Tân Linh  này làm thơ “gửi  Hà Giang” mà  chưa biết gì về Hà  Giang. Hà  Giang  mà  cạn  rượu có mà  bằng sông Lô  cạn  nước”. Nom đám bạn  văn, bạn  nghề uống  rượu, tôi  liên tưởng  đến hai từ  “hũ chìm”, lại  liên tưởng tới câu: “Rượu  đổ hang chuột”. Người  Hà Giang uống  rượu  ở bất cứ đâu, vì bất cứ lý do  gì. Rượu để  suy  ngẫm về vị  đắng  của  cuộc  đời. Rượu  để  say  men  nồng tình yêu. Rượu  để xuống  cơ  sở. Rượu  để thêm phần can đảm mà vỗ  ngực  với  đời. Rượu  để thẩn thơ, bên hoa, dưới  trăng…Nói hay: Thưởng  rượu; nói dở: Phạt  rượu; Không nói: Cũng  rượu. Tôi  nghe trong gió  Cao  nguyên cũng  có  mùi của  rượu. Các ông bạn  tôi  sau  giai  đoạn  “Rượu uống rượu” đã chuyển sang  giai  đoạn  cuối “Rượu uống  người”. Tay  thi  sĩ  khóc dấm dứt. Tay  phê bình văn học  tủm tỉm cười với  cái  đầu gối của  mình. Còn hai  ông nhà  báo  thì nhìn nhau  thân ái, mặt  mũi  sát  khi  đằng  đằng. Từng  nghe chuyện một ông thần tửu sau  “ba say  chưa chai” cứ thế tồng ngồng ngoài đường. Vợ  lôi  về, quát: “Không  biết xấu hổ à!”. Ông thần này đáp: “Đứa nào nhìn tớ thì nó  xấu hổ, tớ  xấu hổ đếch  gì”. Quanh  bàn rượu  Hà  Giang có  thể viết  được  một luận  thuyết hoặc một  cuốn  như  “Những  người thích  đùa”, với  đầy rẫy những  chuyện  bi  hài. Nhưng  đấy là  chuyện  của  người Kinh, còn người dân tộc  thì sao?

Ta mới hỏi người rằng: “Đây là đâu"

Ngày  trước, ta thường đến một làng kia, vừa bước  chân vào thì  chếnh  choáng, nghiêng ngả, mờ mịt, lu bù, trông giời như thấp, trông đất  như cao. Mặt  trời mặt  trăng  thì không  có  ánh  sáng. Mắt  ta mờ, tai  ta ù, tâm thần ta u  mê, thân thể ta mệt  nhọc. Ta mới  hỏi người  rằng: “Đây  là  đâu?”. Người đáp: “Đây  là  nơi  vui  say, sẵn  của  ngon bùi, tha hồ ăn  uống, chẳng phải giữ  gìn. Tục  truyền  là  Làng Say. Sách người xưa chép thế, tôi  đọc  và  ngờ rằng sách  viết về  cái  làng  Mèo  Suối  Đồng (Vị Xuyên – Hà  Giang).

Nguyễn  Trọng  Tuyên  dẫn tôi  thẳng vào gặp già  bản chứ không phải vào UBND (Lệ  làng là  thế). Sau  khi  làm ba bát  rượu  gọi  là  lễ  chào hỏi (cũng vẫn lệ làng), mắt  tôi  đã  trông thấy  bốn hay  tám ông già làng ngồi trước  mặt  mình. Mâm dọn lên. Thịt  mỡ to  bằng bàn tay, dày cỡ bao  diêm, và  tất nhiên, không  thể thiếu rượu. Người  dân tộc  thẳng thắn  và  bộc  trực. Đã uống  là  phải uống bằng bát. Đã nâng là phải cạn. Bây  giờ mới  đến phần  công việc. Các  chức  sắc  làng  xã  vừa gắp, rót, nhai, uống vừa phàn nàn. Thú thực, lúc này tôi  đã  để rơi  công  việc xuống  dưới  đáy  bát, tai  nghe láng máng. Đại khái là: “Đồng bào khổ lắm. Đá nhiều  lắm. Đói lắm. Lúa không sống nổi. Gà lợn không biết đẻ. Ngô  thì hay  bị (hình như là  khỉ) ăn mất. Khổ lắm. Trẻ em  làng Mèo học  trong một  mái  lán (đồng  bào vẫn gọi  là  trường). Cô  giáo  từ Vị Xuyên lội  suối, băng  rừng vào dạy  buổi đực buổi cái. Hỏi: “Sao  lại thế?”. Đáp: “Lương  được trả  bằng rượu với thịt  lợn, chỉ  tổ béo  ông chồng. Chán  lắm. Chả thiết”. Trẻ con dân tộc  rất  vô  tư. Có  đến  năm bảy đứa “khỏa  thân” đến  lớp.

Cái  nguyên nhân  của  sự  nghèo khổ  ở đâu? Có  phải vì  rượu? Có  thể do  nhà báo  quá  vô  tư hoặc  quá vô  tâm. Nhưng  cũng  dễ  hiểu, bởi lẽ, riêng tôi, 8 giờ đồng  hồ ở Suối  Đồng đã mất  đến  3 tiếng  uống rượu, ba tiếng say  rượu (thế  thì đồng bào mới  vỗ  tay  khen: thằng  người  kinh tốt  bụng thực  lòng). Hai  giờ “hoạt  động nghiệp  vụ” tôi  chỉ đủ sức  đi  thăm  một gia  đình và  bốn lò nấu  rượu. Rượu ở đây  thì vô  biên cương. Rượu ngô  có, rượu  sắn có, rượu  gạo  có. Men lá có. Men gạo  có. Men Tàu  cũng  có. Chàng Hơ – Mông chỏ lò cười  hềnh hệch: “Uống đi,  rượu  tao  nhiều lắm, ngon lắm. Tửu  phùng tri  kỷ thiên bôi  thiểu mà”. Tôi nhìn lại  mình. Hai  ngày  ở Hà  Giang, thành bợm  đến  nơi  rồi. “Ngưu  tầm ngưu…” Thảo nào tay  Hơ – Mông này nhận  tôi  làm tri  kỷ, muốn  đãi  đủ ngàn  chén cho  xứng  với danh  hiệu  dân say  ở Làng Say. Hỏi: Một ngày nấu  được  mấy lít? Đáp: Hai  chục. “Cả làng có bao  nhiêu  người?”. “Gần  trăm”. “Có bao  nhiêu  lò nấu?” .”Bảy lò”. “Đem bán xa không?”. “Từ đây  lên nhà  Sùng” (Nhà già  làng). Lạy  chúa  tôi. Có  lẽ  một tay  bợm  người  Germany uống bia một năm  cũng  chỉ bằng  thằng trẻ  con  Suối Đồng uống  rượu  một tháng. Các  nhà làm sách  Guiness hẳn đã  không biết  đến một  Làng  Say.

Không, tôi  không còn gặp  hình ảnh  của  những chàng trai  Mông thổi khèn, múa  dẻo, làm nương  giỏi, không gặp  hình ảnh  của  những  thiếu nữ Mông xoà  ô che nắng, tay  nắm  đuôi  ngựa, che chở và  yêu  thương  những  ông chồng thần tửu. Hình ảnh ấy  đẹp  quá  nhưng  chỉ có  trên phim thôi.

Hà Giang  là  tỉnh nghèo, nghèo lắm. Chỉ toàn là  đá.

Quê  hương  tôi  tự  nó  đã  cao  rồi

 Gần mặt  trời mà  thiếu nắng  quanh  năm

Và  gió  nữa quanh  năm  gào thét

Đá  thì lởm chởm nhọn sắc

Một vùng mênh  mông  xám lạnh  rợn  người

Cao  Xuân  Thái, một thi  sĩ  của  Cao  Nguyên  đã  viết như thế. Ông  sinh  ra từ đá  và  rượu. Tôi  đã  từng chứng  kiến cảnh những  bà  mẹ  gìa, những em  bé phải gùi đất  lên cao, xếp vào từng hốc  đá  cho  hạt  ngô  có  chỗ  nảy mầm. Gùi  đất  đè  nặng  xuống  đôi  vai già nua. Đá nhọn sắc  cào rách những  bàn chân  trần thơ bé. Hạt  ngô, cây  lúa sinh  ra nhọc  nhằn  trên đá, trên mồ hôi  của  biết bao thế hệ  con người sinh ra và  chết đi trong cùng cực  lầm than. Trên  tay  tôi  hạt  gạo  mang dáng  giọt  mồ hôi, hạt  ngô  đỏ bầm  màu máu. Tôi sinh  thời  đã mang trong mình ít máu  Lưu –  Nguyễn, tuy  chưa  đến mức là  đệ tử Lưu  Linh nhưng  cũng  có lúc  dám tự hào mà  đỏ mặt  với  đời. Vậy mà  đến  đất  say, tự thấy  mình chưa xứng  được liệt vào hàng bưng  bê  sách tráp. Sống gần tuần mà như chưa biết đến Hà Giang. Thôi  thì đành viết  về  cái  say có  vị  đắng  của  cuộc  đời và  sự  vô  tâm của  người  đời.




    Gửi phản hồi

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: