Những Địa ngục có thật ở trần gian

Mao họa

(37,55 triệu người TQ chết đói không phải vì chiến tranh, nhiều hơn cả số người chết trong thế chiến thứ 2)

(Trích nguyên văn từ: “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội”)

Trong 4 năm sau khi Mao tuyên bố phải thực hiện một số lý tưởng của Chủ nghĩa xã hội không tưởng (tháng 8-1958) ở Trung Quốc đã xảy ra thảm kịch làm 37,55 triệu người chết đói (số liệu chính thức được giải mật theo quyết định của Bộ Chính trị ĐCSTQ tháng 9-2005), nhiều hơn cả số người chết trong chiến tranh thế giới thứ 2. Đây là cuộc thử nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng thời gian dài nhất, quy mô lớn nhất , thiệt hại thảm khốc nhất trong lịch sử loài người. Thiên đường cộng sản chủ nghĩa do chính Mao thiết kế và lãnh đạo xây dựng đã biến thành địa ngục trần gian.

Đại tiến vọt thực tế gồm 2 lần. Lần thứ nhất diễn ra trước Hội nghị Lư Sơn 1959, cuối năm 1958 đã phát hiện có vấn đề nghiêm trọng. Sau hội nghị Lư Sơn, để chứng minh ba ngọn cờ hồng đúng đắn, Mao phát động phong trào chống hữu khuynh trong toàn Đảng, rồi dấy lên cao trào Đại tiến vọt thứ 2 trong nước. Lần “tiến vọt” này kéo dài hơn một năm, từ nửa cuối 1959 tới cuối năm 1960, gây tội ác lớn nhất.

Ngày 3-9-1958, Mao tuyên bố: “ Sản lượng lương thực năm nay có thể tăng xấp xỉ gấp hai lần năm ngoái, từ 185 triệu tấn lên khoảng 370 triệu tấn…”. Tin lan ra, cả thế giới đều biết sau vụ thu hoạch, đột nhiên các tỉnh báo cáo không nộp đủ số lương thực như dự định. Mao sốt ruột, bởi đây là việc thật bẽ mặt. Ông ta đích thân viết thông tri gửi toàn quốc , nhận định “ vấn đề phổ biến trong cả nước là các công xã, đội trưởng sản xuất che giấu sản lượng, chia nhau lương thực, tình hình nghiêm trọng phải giải quyết ngay”,  hơn nữa phải tiến hành một đợt giáo dục kiên quyết mới giải quyết được”. Song “kiên quyết” như thế nào , Mao không nói rõ, để cho cấp dưới đầy đủ không gian tha hồ tưởng tượng, phát huy. “Chống che giấu sản lượng và chia nhau lương thực” bằng thủ đoạn “ giáo dục kiên quyết” , moi cả khẩu phần lương thực của nông dân là nguyên nhân chủ yếu gây chết đói trên quy mô lớn.

(Mao và 3 ngọn cờ hồng- Chương đen tối trong lịch sử TQ)

Tỉnh Hà Nam vụ thu 1958 có tới 50% mùa màng bị hư hỏng ngoài đồng ( do lao động khỏe bị huy động đi làm gang thép). Năm 1959 sản lượng lương thực giảm , chỉ có 9,75 triệu tấn, nhưng các nơi hư báo lên tới 22,5 triệu tấn. Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chi Phố lấy đó làm cơ số giao chỉ tiêu cưỡng bức thu mua lương thực, cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ bị coi là “Bành Đức Hoài con”. Chuyên khu Tín Dương thực sản chỉ có 2 triệu tấn, Bí thư Khu ủy Lộ Hiến Văn vống lên 4,15 triệu tấn, tỉnh giao chỉ tiêu thu mua 48 vạn tấn đã là quá cao, Khu ủy xung phong nhận 52 vạn tấn. Khẩu phần lương thực hạt giống và thức ăn cho gia sức của nông dân bị cướp đi rất nhiều, bình quân đầu người chỉ còn hơn 50 kg, đủ ăn trong 4 tháng, một số huyện thậm chí không đủ 3 tháng. Chưa đén cuối năm 1959 mà bếp ăn tập thể của nhiều công xã không còn đỏ lửa vì hết lương thực.

Để quán triệt tinh thần “kiên quyết giáo dục” của Mao Trạch Đông, Khu ủy đã tổ chức một cuộc họp 6.000 người ở huyện Hoàng Xuyên, lôi hơn 60 người ra đấu, lại lôi thêm 4 người từ nhà tù ra xét xử công khai. Những nông dân đến dự đều gầy gò, vàng vọt, khoảng 40% mắc bệnh phù thũng, một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường trở về nhà.

Mao chủ tịch hay Mao bạo chúa?

Ngày 8-11-1959, cán bộ Đại đội sản xuất Lê Thụ, Công xã Hoài Điếm huyện Quang Sơn, nghi ngờ xã viên Từ Phó Chính “ Có lương  thực mà không giao nộp” đã giao cho dân quân treo Từ lên xà nhà, đánh đập dã man, 6 ngày sau tử vong. 6 người trong gia đình Từ sau đó đều chết đói. Xã viên Gia Tâm do không nộp đủ lương thực, bị đánh đập tàn bạo, 5 ngày sau qua đời. Vợ Yên là Hoàng Tú Anh rang lúa mạch cho con ăn bị trói lại đưa ra đấu, bị dội nước lạnh giữa ngày đông giá rét và giày vò cho đến chết. Còn lại 5 người con, chỉ có đứa lớn 14 tuổi bỏ chạy đến nhà trọ thoát thân, còn lại 4 đứa nhỏ đều chết đói. Biết bao nông dân bị tan cửa nát nhà vì cuộc “giáo dục kiên quyết” này!

Mùa xuân 1960, nạn đói tràn lan, có làng 80 ngày người dân không được một hạt lương thực vào bụng. Nhiều người chết đói hoặc bỏ đi nơi khác kiếm ăn. Vậy mà Bí thư Khu ủy Lộ Hiến Văn vẫn lên giọng “không phải thiếu lương thực, mà lương thực rất nhiều, 90%  là vấn đề tư tưởng”. Ông ta chỉ cho cán bộ cơ sở và dân quân phong tỏa mọi nẻo đường, không cho dân chúng bỏ đi nơi khác, chỉ thị cho các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trưognf học ở các thị trấn không được đón tiếp người từ vùng nông thôn lên. Bưu cục Tín Dương đã giữ lại một vạn lá thư của cán bộ và quần chúng xin cứu đói.

Theo báo cáo của Khu ủy gửi Trung ương sau này, chỉ riêng Đông Xuân 1959-1960, Tín Dương có hơn 1 triệu người chết đói, dân số giảm mạnh, đồng ruộng hoang vu, nhiều nhà chết đói không còn một ai. Đội sản xuất Ngô Yên Tử thuộc Công xã Thập Lý huyện Quang Sơn có 120 nhân khẩu, thì chỉ trong tháng 10 và tháng 11 năm 1959 đã có 72 người chết đói. Danh sách 72 người này năm 2004 đã được khắc trên tấm bia để nhắc nhở đời sau.

Sự kiện Tín Dương bị phơi trần, để bảo vệ mình, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hà Nam Ngô Chí Phố hạ lệnh bắt Hồ Hiến Văn cùng 16 Bí thư Huyện ủy và Huyện trưởng thuộc Khu Tín Dương, cách chức 982 cán bộ cấp dưới, bắt và đưa ra xét xử 275 người, kết án tử hình Dương Thủ Tích, Bí thư Huyện ủy Cố Sử, và Mã Long Sơn, Bí thư Huyện ủy Quang Sơn.

Sự kiện trên làm chấn động Bắc Kinh, Bí thư Ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương Đổng Tất Vũ cử hai vụ trưởng về điều tra tại chỗ. Càng điều tra, càng phát hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng. Tháng 5-1960, Đổng Tất Vũ chuyển báo cáo kiểm tra lên Thường vụ Bộ Chính trị, Mao xem xong, định hướng đây là sự kiện phản cách mạng, do địa chủ, phú nông lọt lưới chui vào đội ngũ cách mạng, phá hoại hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Thế là Mao rũ sạch trách nhiệm thủ phạm đầu sỏ làm cho mấy chục triệu người chết đói, và một lần nữa trở thành cứu tinh của nhân dân.

Số người chết đói ở Trung Quốc trong thời gian 1959-1962 là 5,11% dân số cả nước, 6 tỉnh nặng nhất là An Huy 18,37%, Tứ Xuyên 13,07%, Quý Châu 10,23% Hồ Nam 6,81%, Cam Túc 6,45%, Hà Nam 6,12%.

6 tỉnh nhẹ nhất là Hà Bắc ( gồm cả Bắc Kinh, Thiên Tân) 1,1%, Giang Tây 1,06%, Thiểm Tây 1,02%, Cát Lâm 0,94%. Chiết Giang 0,55%, Sơn Tây 0,37%. Sự chênh lệch này liên quan rất lớn tới tố chất của các Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy: nơi nào càng bám sát “đường lối cách mạng” của Mao thì tỉ lệ chết đói càng nhiều.

Nạn ăn thịt người diễn ra ở Tứ Xuyên và nhiều nơi khác: khi chôn người chết chỉ vùi nông, tối bới lên xẻo lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng. Tàn nhẫn hơn là nạn ăn thịt trẻ con, điển hình là chuyện xảy ra ở Đại đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, Khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên. Theo lời Trịnh Đại Quân, nguyên cán bộ Ban công tác  nông thôn huyện Sùng Khánh, Đội sản xuất trên có 82 hộ , 491 nhân khẩu, chỉ trong một năm từ tháng 12-1959 đến tháng 11-1960 đã có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% bé gái cùng độ tuổi ở nơi này. 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người. Chuyện đau lòng đó diễn ra trong bối cảnh lương thực hết sạch, mọi người từng nhiều ngày phải ăn giun dế, côn trùng, cây lá, vỏ cây , cỏ dại, và cả đất thó. Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện vụ ăn thịt trẻ con. Hồi đó tuy nhà ăn tập thể thực tế đã ngừng hoạt động vì không còn lương thực nữa, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp. Đêm ấy, đến lượt Vương cùng hai người khác đi tuần. Các mái nhà phủ trắng tuyết đầu mùa sáng hẳn lên khi vầng trăng nhô ra khỏi đám mây, Nhóm tuần tra phát hiện một dải khói  mỏng tỏa ra từ khói nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Họ chia nhau bao vây vu hồi, rồi đồng loạt dùng đèn pin nhảy vào nhà, nổ một phát súng cảnh cáo: “Tất cả ngồi im”!

Đèn dầu được châm lên, nhà Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng lúc này chỉ thấy có 5. Thành viên thứ 6 là bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết hại, xẻ ra lấy thịt, đang luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra đang tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài, ăn ngấu nghiến…Về sau, Nhị Oa được tha. Dân làng bàn tán, cho rằng chính phủ ngầm cho phép ăn thịt trẻ con. Thế là nạn ăn thịt trẻ con lan tràn, do “trọng năm khinh nữ”, họ chỉ ăn bé gái, giữ lại bé trai. Không những ăn thịt mà còn nghiền vụn xương đầu và tay chân ăn cho bằng hết. Kẻ nhẫn tâm thì làm thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ yếu mềm hơn thì “gạt nước mắt đánh đổi với nhà hàng xóm”: Trao con mình cho người khác ăn, mang con người khác về nhà làm thịt. Một số xã viên “nhìn xa trông rộng” đã đi bắt cóc trẻ con vùng lân cận về ăn, hoặc gài bẫy trẻ con như bẫy thú…

Trong 3 năm đói kém ấy, tình hình xã hội rối ren nghiêm trọng. Tháng 12-1960, Chuyên khu Vô Hồ tỉnh An Huy xảy ra 180 vụ cướp lương thực. Nhiều vụ khác xảy ra ở Cam Túc, Quảng Đông, Quý Châu, Tứ Xuyên…

Số người chết đói trong”Đại tiến vọt” không bởi thiên tai mà do “nhân họa”, “Mao họa”, quyết sách sai lầm. Cuối tháng 6, dự trữ lương thực trong cả nước 17 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu thành thị trong mộtnăm. Nhưng trong tình hình lương thực giảm 30 triệu tấn, Mao lại quyết định xuất khẩu 4,19 tấn để đổi lấy vàng và USD, bằng 24% dự trữ lương thực…Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 2 họp tại Bắc Kinh từ 30-3 đến 8-4-1960, 2 ngàn đại biểu đều phụng mệnh “ba không”: Không nói đến nhiệm vụ trưng mua lương thực quá nặng; không nói nhiều người chết đói; mà chỉ được phép nói về “tình hình tốt đẹp” ở địa phương mình, giơ tay thông qua kế hoạch kinh tế đại tiến vọt hơn nữa.

Advertisements



    Trả lời

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: