Chính phủ ham chi tiêu quá

Một nước đã nghèo thì lại chi nhiều, lẽ ra cần kiệm tiết kiệm thì lại bỏ tiền vào Vinashin, đam mê đường sắt cao tốc- TS Nguyễn Quang A nói về những nguyên nhân khiến lãi suất và lạm phát cùng tăng vọt.

Lãi suất tăng cao thời gian gần đang chứng tỏ điều gì? Thưa ông?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Thứ nhất lãi suất tăng đột biến chứng tỏ việc điều hành kinh tế, vĩ mô có vấn đề. Nhớ lại năm 2008 cũng có 1 giai đoạn như thế. Giai đoạn mà ngân hàng thiếu tính thanh khoản, nên lãi suất liên ngân hàng, lãi suất huy động tăng rất nhanh, một số ngân hàng nhỏ lâm vào tình trạng khó khăn về tiền mặt. Tình hình lúc đó và lúc này khá và giống nhau, tuy nhiên nguyên nhân sâu xa có khác nhau một chút nhưng đều là những dấu hiệu đáng lo ngại về ổn định kinh tế vi mô.

Lãi suất luôn gắn với lạm phát, lạm phát cao thì không thể hạ lãi suất được. Năm 2008, lạm phát lên 18%, có lúc lên 23 % thì lãi suất không thể thấp dưới mức đó được. Bây giờ lạm phát đã ở mức 2 con số thì lãi suất đầu vào cũng không thể dưới 2 con số được.

Nguyên nhân của việc lãi suất tăng “đột biến” là do ảnh hưởng bởi lạm phát tăng cao, do niềm tin suy giảm, hay cả hai? Thưa ông?

– Việc biến động đột biến chứng tỏ tâm lý, niềm tin của người dân vào tiền đồng bị lung lay và giảm đáng kể. Khi lạm phát tăng thì giá trị đồng tiền giảm, người ta đổ sang ngoại tệ, sang các mục tiêu đầu tư khác. Và tâm lý này lại càng làm sói mòn niềm tin vào tiền đồng. Nhiệm vụ của Chính phủ và của NHNN là giữ ổn định đồng tiền nội tệ. Rất tiếc là thời gian qua nhà nước đã không làm được hoặc đã lơ là điều đó.

Nguyên nhân của lạm phát tăng cao trong những tháng gần đây là do tiền lưu thông trong nền kinh tế nhiều. Tiền nhiều, lượng hàng hóa thì vẫn như thế ắt sẽ đẩy giá hàng lên cao. Tất nhiên lạm phát chịu tác động của giá cả bên ngoài, nhưng đó không phải là chính. Vì nếu do nguyên nhân này thì các nước lạm phát cũng phải như vậy. Trong khi đó, nước ngoài, lạm phát của họ khác mình. Do đó không thể đổ lỗi cho nguyên nhân bên ngoài, chỉ còn nguyên nhân bên trong mà thôi.

Nguyên nhân bên trong được ông đề cập đến nên được hiểu thế nào?

– Mới cách đây 4, 5 tháng, NHNN vừa chỉ đạo các NHTM phải hạ giảm lãi suất, tức là làm tăng tín dụng, tức là tăng tiền, đẩy lạm phát tăng. Nghĩa là Chính phủ quăng mồi lửa, đốt lên ngòi lạm phát. Đấy là những nguyên nhân trực tiếp.

Nguyên nhân đằng sau là Chính phủ ham chi tiêu quá, chi tiêu quá nguồn thu của mình. Ông Trần xuân Giá nói rất đúng là, căn bệnh của lạm phát, muốn giải quyết căn rễ thì mình thu được bao nhiêu thì chỉ nên chi tiêu từng ấy thôi, đừng có tiêu hơn. Vấn nạn đó là căn bệnh thâm thâm hụt ngân sách kéo dài hàng chục năm nay , năm nào cũng cao ngất ngưởng. Năm ngoái, thâm hụt ngân sách lên tới 6% hay 7%, nhưng các tổ chức quốc tế cho là trên 10 %. Đấy là điều không thể chấp nhận được, một nước đã nghèo thì lại chi nhiều quá, lẽ ra cần kiệm tiết kiệm thì lại bỏ tiền vào Vinashin, đam mê đường sắt cao tốc. Nói như vậy để thấy rằng, khát vọng tiêu tiền cháy bỏng như thế nào. Và đằng sau khát vọng tiêu tiền ấy là nguyên nhân sâu xa thúc đẩy tăng tín dụng, tăng tiền trong nền kinh tế.

Nguyên nhân sâu nhất đó là hiệu quả chi tiêu ngân sách nhà nước kém. Đáng lẽ chi ra 4 đồng thì tạo được 1 đồng tăng trưởng. Còn mình thì phải chi 8 đồng mới được một đồng tăng trưởng. Nền kinh tế hiệu quả kém, chủ yếu là do khu vực đầu tư nhà nước, khu vực công. Chẳng hạn như Vinashin. Nhà nước tiếp tục bơm tiền để cho tập đoàn.

Theo logíc thì lãi suất tăng cao là hợp lý và không thể tránh khỏi, cho dù nó vượt xa cả mức chịu đựng của doanh nghiệp?

– Việc lãi suất tăng góp phần làm tăng giá, vì thực chất đó là việc tăng giá của đồng vốn, do đó nó lan tỏa ra khắp nơi. Doanh nghiệp tăng đầu vào thì tăng giá. Vòng xoáy đó nguy hiểm nhưng có những chuyên gia kinh tế khi làm cố vấn cho Chính phủ thì lại nói là hạ lãi suất để chống lạm phát. Cái đó chỉ đúng được 20% thôi, còn 80% là trật. Vì tăng lãi suất tác động làm giảm lượng tiền trong lưu thông nhiều hơn là tác động tăng giá. Nên việc tăng lãi suất là điều không thể tránh khỏi.

Tất nhiên, nếu kéo dài thì đó là điều không hợp lý, vì nếu kéo dài thì bản thân các ngân hàng cũng không chịu đựng được. Đó là bước “cực chẳng đã” trong khó khăn.

Việc lãi suất tăng cao phải chăng cũng có mặt “được” và cần được nhìn nhận một cách công bằng? Thưa ông?

– Tăng lãi suất có tác động tích cực là có thể làm cho quá trình tái cơ cấu của nền kinh tế nhanh hơn. Nghĩa là với vốn như thế thì những người căn cơ giỏi thì sẽ phất lên, những người làm ăn không chịu khó, ỷ lại thì sẽ phải co lại. Đấy là một cơ chế khốc liệt, nhiều khi nói là nhẫn tâm, nhưng là cơ chế rất cần, rất mạnh cho nền kinh tế. Nếu để việc hỗ trợ tín dụng giảm thì các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh quyết liệt. Tín dụng mà dễ dãi, lãi suất thấp thì kích thích đầu tư làm ăn, nhiều khi là làm liều, gọi là ràng buộc ngân sách không cao. Nếu như doanh nghiệp quốc doanh mà kêu khổ cái là được nhà nước rót vốn, lãi suất được ưu đãi ngay là không được. Điều kiện cần thiết để doanh nghiệp làm ăn hiệu quả thì ràng buộc ngân sách cứng: tức là không có chuyện ưu ái về tín dụng, vốn. Ràng buộc ngân sách cứng và phải cạnh tranh mạnh mẽ, cứng thì các doanh nghiệp bất luận là quốc doanh hay tư nhân đều hoạt động hiệu quả. Khía cạnh này cũng cần được nhắc đến, chứ không chỉ thấy việc lãi suất tăng là khó khăn.

Nếu để hạ lãi suất theo ông cần có những chính sách điều hành như thế nào trong thời gian tới?

– 6 tháng trước Chính phủ và NHNN kêu gọi phải hạ lãi suất, nhưng trên thực tế việc hạ lãi suất đã không như mong muốn. Vậy, bây giờ muốn hạ thì phải hạ như thế nào? Tôi nghĩ, trong lúc nhu cầu về vốn tăng cao về cuối năm chẳng hạn như trả lương, trả thưởng, nhu cầu về tiền cao, lạm phát không kiểm soát được thì phải nâng lãi suất. Đó là điều đúng, không sai. Nếu lãi suất không cao, mới là điều phải thực sự lo lắng. Nâng lãi suất là 1 biện pháp để thắt chặt chính sách tiền tệ. Chính phủ buộc phải chấp nhận .

NHNN ép các NHTM hạ lãi xuất 14, 15%, tôi cho rằng đó nhất thời là bằng biện pháp hành chính, cũng có thể cần thiết. Vì đây là những việc không bình thường, nhưng dài hạn thì không thể áp dụng được. Mấu chốt ở đây là do chúng ta đã đặt ra một quy định sai mà lại được luật pháp quy định, đó là về lãi suất cơ bản trong luật dân sự. NHNN buộc các đối tượng trong nền kinh tế đều trở thành những người vi phạm pháp luật, như thế là họ không tin, coi quy định pháp luật là trò cười, như thế càng nguy hiểm. Một trong những nhiệm vụ của Nhà nước là tạo dựng niềm tin của các doanh nghiệp, của người dân. Đằng này, nhà nước quy định một đằng thì lãi suất một nẻo, nên buộc các ngân hàng phải tìm cách lách luật.

Bây giờ ra quy định gì thì chỉ một nhóm người nghĩ, không có quy định gì mà chặt kín như bưng được. Trong thực tiễn có hàng nghìn người săm soi để tìm kẽ hở, chẳng hạn như thưởng, khuyến mãi, đó là thực tế mà nếu một chính phủ dùng quá nhiều biện pháp hành chính đểu điều hành là sẽ gây ra nhiều bất cập.

Xin cám ơn ông !

Advertisements



    Trả lời

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: