Luẩn quẩn chuyện muối

Cuối cùng thì Bộ NN và PTNT đã phải đề nghị tạm dừng giao 50 ngàn tấn muối theo quota nhập khẩu của Bộ Công thương, dù trên danh nghĩa, đó là muối công nghiệp, là muối phục vụ sản xuất hoá chất. Những bài học nhãn tiền vẫn còn đó. Giá muối đang thấp lè tè “dăm bảy trăm” không biết sẽ còn xuống đến bao nhiêu khi việc nhập muối chỉ cần được đồng ý về mặt chủ trương, dù đó là muối gì.

Hình như năm nào những tranh cãi về việc nhập muối cũng diễn ra. Ừ thì là nhập những loại muối “trong nước chưa sản xuất được”. Ừ thì là nhập muối công nghiệp, muối y tế cho sản xuất. Nhưng rõ ràng câu chuyện phải nhập muối đối với một quốc gia có tới 3000 km bờ biển và số giờ nắng lên tới 3000h mỗi năm, vẫn là một sự phi lý. Muối tinh, hay muối công nghiệp đâu phải là thứ công nghệ “chế tạo tàu vũ trụ” mà “không thể sản xuất”. Và muối, vốn mặn, vốn chát (có người nói trong đó có vị đắng chát của mồ hôi và nước mắt diêm dân) không phải là thứ có thể ăn thay cơm, đốt thay xăng để có thể tăng đột biến mỗi năm. Thế mà năm nào cũng có quota, năm nào cũng xảy chuyện mang ngoại tệ đi nhập những hạt muối mà chỉ cần “vốc nước lên là đã có”.

Tháng 6-2010, trên diễn đàn Quốc hội, trước sự theo dõi của cử tri, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng nhận trách nhiệm: “Nhập muối hạn ngạch tác động tới giá muối trong nước, chúng tôi có trách nhiệm trong việc này, chúng tôi nhận trách nhiệm trước cử tri, trước quốc hội”. Ấy là khi những cánh đồng muối trong nước vừa trải qua một cơn bạo bệnh khi giá muối trong nước rớt xuống đáy sâu của sự rẻ mạt: 300 đồng/kg. Đó là khi diêm dân dẹp bỏ đồng muối để làm bất cứ gì khác, miễn không phải là muối, khi mà giá bán thấp hơn quá nhiều so với giá thành. Đó là khi lưng áo diêm dân bạc, trắng hơn cả muối. Và đó là khi vị đắng mồ hôi thấm chát trong từng hạt muối. Nhận trách nhiệm rồi để làm gì? 5 tháng sau đó, hạn ngạch nhập muối năm 2011 tiếp tục được đưa ra với con số 120 ngàn tấn muối, bất biết diêm dân sống chết ra sao, bất kể trong nước còn tồn bao nhiêu và bất biết Chính phủ vừa phải dốc túi mua 200 ngàn tấn tạm trữ để cứu diêm dân. Nhu cầu muối, cho cả sản xuất và đời sống ở Việt Nam là tương đối ổn định với trên dưới 1 triệu tấn mỗi năm nhưng không năm nào Việt Nam không phải nhập muối. Năm 2007, lượng muối nhập là 140 ngàn tấn. Năm 2008 là 380 ngàn tấn. Năm 2009, lượng muối nhập lên tới 580 ngàn tấn. Năm 2010, trong chính cái năm ghi nhận kỷ lục về sự rẻ mạt đó, cũng đã có 140 ngàn tấn, trong hạn ngạch 260 ngàn tấn được nhập về và trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp tàn phá hơn 14.400 ha cánh đồng muối, chà đạp đời sống của 250 ngàn diêm dân tại 120 xã ven biển.

Điều gì là tệ hại nhất với những cánh đồng muối, với diêm dân?

Năm nào cũng phải nhập muối với số lượng ngày một gia tăng và những kỷ lục “500 ngàn tấn muối nhập” được thiết lập?

Một quốc gia có hơn 3000 km bờ biển và 250 ngàn diêm dân phải nhập 40 ngàn tấn muối ăn?

Giá muối xuống đáy: 300 đồng/kg?

Bộ quản lý sản xuất bảo đủ, ngành quản lý thương mại nói thiếu?

Hay là chính sách thu mua muối tạm trữ nhằm cứu giúp diêm dân được thực hiện song hành với việc cho phép nhập muối?

Có lẽ là do sự máy móc, tắc trách của các nhà điều hành và sự phó mặc đối với diêm dân. Minh chứng rõ nhất là tình trạng thiếu muối, xin nhấn mạnh là muối ăn, xảy ra ngay chỉ sau một vụ muối ế.

Advertisements



    Trả lời

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: