Vọng phu sống ở Lý Sơn

Năm 2007: Bị nước ngoài bắt. Ở tù 1 năm. Tàu thuyền bị thu sạch. Năm 2008: Đã “buộc tay chung” trên biển, đã “xém chết” trên vùng biển Trường Sa khi tàu bị phá nước. Năm 2009: Mái nhà tranh bị bão bầm cho dập nát. Năm 2010 bị Trung Quốc bắt. Bị tịch thu. Bị đánh đập. Bị giam trên đảo Phú Lâm. Và năm 2011, trong chuyến hải trình định mệnh, chỉ để “kiếm cho mẹ con nó cái tết”, đã mãi không trở về.

Bạn hỏi tôi đang nói về ai ư? Thì đó là về ông Nguyễn Đảng, lão ngư 70 tuổi tóc trắng như sóng bạc đầu, mới ngày nào được tung hô như người anh hùng. Và đó cũng có thể là một ngư dân bất kỳ nào đó ở Lý Sơn. Lý Sơn, Lý Sơn, nơi cát ngập tràn mười cây số vuông. Nơi mà những nấm mộ chiêu hồn cũng bạt ngàn trong cát. Không ai đếm được có bao nhiêu ngôi mộ như thế. Không ai biết được còn bao nhiêu sẽ lại mọc lên.

Quá trưa, hai mẹ con bà Xí, vợ goá của ngư phủ Nguyễn Đảng vẫn chưa thấy đụng chuyện ăn uống. Từ ngày làm mộ gió cho chồng. Người đàn bà can trường đó vẫn ráng sống nuôi con. Đứa bé mới lên 7. Quá nhỏ để hiểu sự nghiệt ngã của biển cả, nhưng dường như đã đủ lớn để biết người cha đã ra biển và mãi mãi không còn về. Đủ lớn để bắt đầu quen với cái dáng ngồi dựa cửa của người mẹ, như bất cứ người phụ nữ nào trên cù lao.

Ngày 22-11-2010, ông Đảng đi bạn trên con thuyền QNg 66912 của thuyền trưởng Phạm Minh Tân lấy rau chân vịt. Từ sau khi bị Trung Quốc bắt,, đây là chuyến đi biển đầu tiên, tại chính ngư trường mà ông đã bị bắt trước đó chỉ 3-4 tháng: Hoàng Sa. Tại sao ông vẫn đi Hoàng Sa mà không phải là một vùng biển khác. Người đàn bà làng chài đáp một cách giản dị, như bất cứ một người Lý Sơn nào khác, rằng đó là nơi cha ông họ bao đời này vẫn đến đó đánh bắt. Đó là nơi mà những đứa con của biển đã thuộc đến từng rặng san hô, từng lạch nước. Đến ngày 12-1-2011, sắp tết, bà nhận được cú điện thoại cuối cùng. Ông thông báo trời động miết, sóng dữ lắm, có lẽ sẽ phải ăn tết ngoài Hoàng Sa. Và từ đó, ông mãi mãi không bao giờ trở về. Cả 6 người trên con tàu định mệnh đều chết mất xác.

Đời ông Đảng là một kiếp những chuân truyên. Năm 2007, đang từ thế nhà to tàu lớn, ông bị nước ngoài bắt giữ. Ở tù một năm, ông ra về với hai bàn tay trắng. Một năm sau đó, ông xém chết khi đi biển ở Trường Sa. Những người đàn ông của biển khi ra khơi bao giờ cũng có một cuộn dây. Ấy là khi thuyền vỡ nước, họ cột chặt tay nhau để chết chung, để cầu cho thân xác được cùng nhau trôi dạt về đất mẹ. Có lẽ chỉ thiếu so với cha ông họ, những hùng binh Hoàng Sa thủa nào, một cái thẻ bài. Bữa đó ông Đảng cùng với bạn chài của mình đã cột tay. Nhưng số ông chưa đoạn. Ông được tàu hải quân cứu ngay trước cái miệng khổng lồ không đáy và dữ tợn của biển cả. Bà Xí kể sau đận đó, có những người đã lạy “ông Thiên” sẽ ở nhà ăn cơm mắm, sẽ chẳng bao giờ bước chân xuống thuyền. Nhưng ngư dân mà không đi biển thì sao có thể gọi là ngư dân. Biển cả như ngôi nhà, mảnh vườn. Hoàng Sa thân thương ngay cả khi, hoặc cũng bởi, nó là nơi chôn vùi mãi mãi bao lớp cha ông của họ. Và thế là ông Đảng cùng bạn chài lại tiếp tục ra khơi. Tháng 8-2010, ông bị Trung Quốc bắt khi đi bạn trên thuyền của sói biển Mai Phụng Lưu. Những câu chuyện về chuyến hải trình đau khổ đó giờ không ai muốn nhắc lại nữa. Chỉ biết là trùng khơi ngoài kia, biển cả có thêm một hiểm hoạ, nghiệt ngã không kém gì sóng to gió lớn.

Sau cú điện thoại cuối cùng, đêm đó bà Xí không ngủ được. Linh cảm đàn bà nói với bà có điều gì đó đang xảy ra. Những chuyến đi Trường Sa xưa nay vẫn kéo dài cả tháng, bà cũng đã quen với sự chờ đợi cả chục năm trời. Nhưng chưa bao giờ trong lòng bà bồn chồn lo lắng như đận đó. Cái cảm giác bất an đã không lừa bà. Ông Đảng đã đi mãi, gửi thân nơi Hoàng Sa. Lý Sơn có câu rằng: Ngày xưa, Ngư dân cách ngư phủ một cái nan tre. Và giờ cũng chỉ cách ngư phủ một cái be ghe (đáy thuyền). Biết thế. Cha ông ngày xưa, những người đã gửi thân nơi Hoàng Sa cũng biết thế. Nhưng nào có còn cách lựa chọn nào khác.

Lý Sơn trời trong vắt. Nước trong vắt. Đang là mùa thuận hoà để đi biển. Nhưng dường như có bão trong đôi mắt những người đàn bà Lý Sơn. Trong những đôi mắt đó, chỉ thấy toàn là sự khắc khoải. Khắc khoải đến u uẩn.

Ngôi nhà dựa lưng vào núi Thới Lới, bé nhỏ, mong manh, trống trước trống sau với mái hiên và một bậu cửa nhỏ. Nếu phải tìm một hình ảnh về những người phụ nữ miệt biển, về những người đàn bà Lý Sơn, có lẽ không gì tiêu biểu hơn hình ảnh họ ngồi đó với đôi mắt khắc khoải dõi ra ngoài trùng khơi. Ở Lý Sơn, phụ nữ không được ra biển. “Mình họ bẩn nên không được lên thuyền”- ông Võ Đắc Danh, thủ toạ Âm linh tự bảo vậy. Công việc chính của họ là ngồi tựa cửa và khi chồng về thì cố gắng sinh được những đứa con trai, để đi biển. Hàng ngàn năm nay vẫn vậy. Nhưng cái cách mà họ ngồi chờ chồng, và chung thuỷ, sự can đảm và cái tâm thế chấp nhận những người đàn ông có thể một ngày không trở về có lẽ cũng là một thứ truyền thống ngàn năm sinh ra từ sự nghiệt ngã và nham hiểm của biển cả. Đàn ông Lý Sơn nói biển là biển bạc. Biển bạc hôm nay cho họ cá tôm, ngày mai sẵn sàng đòi của họ thứ quý giá nhất là mạng sống. Đàn bà Lý Sơn nói biển là biển giả. Biển cho họ miếng ăn nhưng biển một ngày nào đó cướp đi của họ tất cả. Có người phụ nữ nào còn muốn sống khi biển cướp đi của họ cả cha, cả chồng, và những đứa con trai.

Sau khi ông mất, hai mẹ con không tiền tuất, không bảo hiểm, chỉ còn lại một khoản nợ cả chục triệu đã đến ngày đáo hạn. Bà lo, không có tiền trả, sợ ngôi nhà tình nghĩa mới được dựng lên lại bị siết nợ. Giờ, hàng ngày bà Xí theo con nước cọn. Bà nuôi con 2 bữa cơm bằng cách ngày ngày ra biển bòn rong kiếm 15 ngàn mỗi ngày. Chưa đủ để khỏi đói. Cuộc sống đã long đong chìm nổi kể từ đận ông bị bắt, giờ đã xuống đến đáy.

Về thân phận của những người phụ nữa làng chài, chúng tôi được TS Nguyễn Đăng Vũ, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, đọc tặng mấy câu ca dao ông trực tiếp sưu tầm ở Lý Sơn:

Ngó lên trên trời, trời cao lồng lộng.

Ngó ra ngoài biển, biển động thinh thinh

Ngó vô trong dạ buồn tình

Đêm nằm nước mắt nhỏ như bình trà nghiêng

Đêm năm nước mắt rơi nghiêng

Áo em năm vạt ướt liền cả năm

Trong sân nhà ông Đảng năm nay mướp vẫn trổ hoa. Nhưng những quả mướp năm nay bị thui, còi cọc đến lạ. Bà Xí nói đầy tâm trạng, là bởi năm nay hoa mướp thiếu ong về thụ phấn.

Hôm chúng tôi xuống nhà, con dâu (với đời chồng trước) của bà, một phụ nữ 25 tuổi, cũng ngồi với cái dáng tựa cửa. Sau khi làm mộ gió cho dượng, chồng cô, ngư dân 25 tuổi tên Nhiều, để vợ con ở nhà để tiếp tục ra khơi. Thế là nhà lại có thêm một người đàn bà tựa cửa. Thêm một nỗi khắc khoải.

Advertisements



    Trả lời

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: