Căn bênh làng

Ngày 14-8-2009, tại diễn đàn Quốc hội, đại biểu QH Nguyễn Thị Hoa đã khẩn thiết “Xin Bộ trưởng hãy đi thăm con đường đau khổ”- Đó là một đoạn đường 32, nối Hà Nội với phía Tây Hà Nội, bấy giờ đã thi công được vài năm. “Chỉ sau 6 tháng sẽ hoàn thành”, Bộ trưởng Bộ GTVT khi đó, ông Hồ Nghĩa Dũng đã long trọng hứa trước cử tri.

Không phải 6 mà 13 tháng sau, ngày 11-9-2010, Chủ tịch TP Nguyễn Thế Thảo lại “thị sát” con đường đau khổ và… giật mình trước những trái khoáy trong chuyện…đền bù, giải phóng mặt bằng. Dù ông không hứa hẹn gì nhưng chuyến vi hành của Chủ tịch được ca ngợi ngay sau đó với nhiều mỹ từ, chẳng hạn “Nghe và quyết ngay tại chỗ”.

Báo chí cũng không ít lần chưng hửng với những cái tít ấn định thời gian cụ thể hoàn thành, thông xe: Trước 10-10, trước tết âm lịch, trước 30-6…

Đến bây giờ, ngày 5-10, hơn 2 năm sau lời hứa của Bộ trưởng, hơn 1 năm sau ngày Chủ tịch thị sát, con đường đau khổ vẫn chưa thể hoàn thành.

Chỉ vài km, nhưng con đường đau khổ, với trứng vỡ, tai nạn, với bụi đỏ đầy trời và cả ngàn người ùn tắc trong những cái nút cổ chai luôn ở tình trạng “đang thi công”, là một ví dụ điển hình cho sự chậm trễ, chậm trễ đến hoang phí, đến thiếu trách nhiệm của những công trình công cộng của ngành giao thông.

Đôi khi sự kéo dài chậm trễ một cách thái quá khiến cho dân chúng bỗng nhiên nghi ngờ những lời hứa. Bởi cái mà người dân có thể tin, chỉ có thể là kết quả cuối cũng của việc “nghe và quyết ngay tại chỗ”.

Khi vào Đà Nẵng thị sát hôm 4-10, tân Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã gây ra một cú sốc khi quyết thay ngay Tổng công trình sư công trình nhà ga hành khách sân bay Đà Nẵng. Báo chí còn chộp được hình ảnh Bộ trưởng gọi điện, ngay lập tức, điều người thay thế, thậm chí, ông còn đi xa hơn khi định thay thế cả nhà thầu thiếu năng lực.

Tổng vốn hơn 1.345 tỷ đồng và lẽ ra phải đưa vào khai thác từ quỹ I-2010 nhưng đến giờ, công trình vẫn chưa thể hoàn thành. Một chi tiết đáng chú ý đến từ ý kiến một người nước ngoài. “Rất khó hoàn thành dự án vào cuối năm 2011 bởi tư duy chậm trễ dường như ăn sâu vào các nhà thầu”.

Việc chậm trễ cả năm, không cần tính toán, cũng biết cái đầu tiên đội lên sẽ là chi phí. Và kết quả cuối cùng của hầu hết công trình dự án là…xin điều chỉnh tổng dự toán. Một ví dụ nhãn tiên là dự án tuyến metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên ở TP HCM. Chỉ vì chậm tiến độ, công trình này đã phải tăng vốn đầu tư từ 1,1 tỷ USD lên 2,3 tỷ USD, ngay cả khi công trình chưa khởi công.

Chậm tiến độ, một cách phổ thông- dường như là căn bệnh chung. Nó phổ biến đến nỗi giá thử có một công trình đúng tiền độ, thì điều đó là bất bình thường.

Và chậm tiến độ, không phải chỉ là việc chậm trễ ngoài công trường. Nó là “căn bệnh làng” trong tư duy, thái độ và sự chuyên nghiệp của các nhà thầu cũng như chủ đầu tư.

Có một câu chuyện khác xảy ra tại Đà Nẵng. Đó là cuộc gặp của Bộ trưởng Thăng với Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá Thanh. Ông Thanh đã gọi đây là một “nỗi nhục quốc thể”!” – Thi công ì ạch, chậm trễ, kéo dài hết năm này đến năm khác trong tình trạng hành khách trong nước lẫn quốc tế phải đứng giữa mưa, giữa nắng vì nhà ga cũ quá tải. “Nếu đây là công trình của TP Đà Nẵng thì BQL dự án đã bị cách chức lâu rồi”- ông Thanh nói.

Từ “thay thế” đến “cách chức” là một quãng dài về hình thức, nhưng lại rất ngắn về thái độ kiên quyết của người lãnh đạo.

Có lẽ ông Bộ trưởng Thăng cần có thêm thời gian để có thể kiên quyết hơn với căn bệnh chậm tiến độ trầm kha trong ngành GTVT.




    Gửi phản hồi

    Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

    WordPress.com Logo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

    Twitter picture

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

    Facebook photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

    Google+ photo

    Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

    Connecting to %s



%d bloggers like this: