Archive for the ‘Phỏng vấn’ Category

3,5 ngàn bác sĩ ra trường- 4 ngàn người về hưu

Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề của Quốc hội, ông Nguyễn Văn Tiên trao đổi với Đại Đoàn Kết về những vấn đề của y tế Việt Nam

Không chỉ bệnh nhân, mà các sinh viên mới ra trường, tân y bác sỹ cũng chết chẹt trong cơ chế thị trường

Mười ngàn dân một bác sĩ

Xin ông đánh giá về thực trạng thiếu bác sĩ và quá tải tại các bệnh viện hiện nay?

Tính lượng bác sĩ trên một vạn dân chúng ta đang thiếu là chắc chắn. Tại kỳ họp Quốc hội lần trước đồng chí chủ tịch HĐND T.P Hồ Chí Minh phát biểu TPHCM đang thiếu 3000 nghìn bác sĩ. Ngay cả TP HCM là nơi có sức hút lớn như vậy còn đang thiếu chứ nói gì là các tỉnh như Hà Giang, Lai Châu. Nguyên nhân chính là do đào tạo không đủ và nhu cầu xã hội phát triển mạnh do đó chúng ta không chuẩn bị trước được. Khi chúng ta phát hiện được thì để khắc phục phải mất 10 năm mới có đội ngũ bác sĩ đầy đủ được. Trách nhiệm chính thuộc về Bộ y tế và Bộ giáo dục do không chuẩn bị và dự báo được. Cơ quan quản lý nhà nước cần phải có đầu óc dự báo quan trọng chứ “nước đến chân mới nhảy’ như đào tạo thiếu bác sĩ thì không được. Ngân sách chi cho y tế của Việt Nam rất là thấp. Người ta tính rằng, Việt Nam là một trong những nước mất cân bằng về chăm sóc sức khỏe nhất vì 60% chăm sóc sức khỏe là do người dân bỏ tiền túi, còn nhà nước chỉ 40% trong khi khuyến nghị là dưới 50%. Hơn nữa khi xét lại cơ cấu tổ chức trong các ngành thì nghành giáo dục là ngành quan trọng và được nhà nước ưu đãi đầu tư với 1 triệu cán bộ giáo dục, trong khi nghành y tế cả thầy lẫn tướng chỉ có 200 nghìn. Cho nên, số lượng đầu tư y tế thấp hơn so với yêu cầu rất nhiều. Ví Dụ tại các nước như Cu Ba, Bắc Triều Tiên mỗi một tỉnh thì có 1 trường đại học y, 120 hộ gia đình thì có 1 bác sĩ gia đình nên chăm sóc ngay từ ban đầu và được bao phủ cho nên từ bệnh nhẹ đã được hướng dẫn ngay tại cộng đồng. Còn tại Việt Nam , một xã với khoảng 10 nghìn dân mới có được một bác sĩ và vài y tá.

Chính việc thiếu nhân lực đã dẫn đến quá tải về nhân lực và quá tải về các cơ sở khám chữa bệnh. Hầu hết các cơ sở từ trung ương đến tuyến tỉnh đều quá tải. Ở bệnh viện lớn như Bạch Mai hay Việt Đức đều quá tải 150%, hay như Viện E không có gì nổi trội cũng quá tải từ 130-140%. Các nghiên cứu của nghành y tế đã chứng minh, tại bệnh viện C, bệnh viện phụ sản trung ương thì có tới 50-60% những ca đẻ thường hoàn toàn có thể đẻ ở nhà hộ sinh. Yếu tố tâm lý khiến bệnh nhân cái gì cũng lên lên trung ương. Điều này cũng nói lên trình độ, năng lực của hệ thống y tế cơ sở tuyến tỉnh, huyện kém về chất lượng về trang thiết bị và con người do người giỏi sau khi đi học lại lên trung ương hết.

3,5 ngàn bác sĩ ra trường- 4 ngàn người về hưu

Ông vừa nói đến trách nhiệm của giáo dục và y tế, dường như điểm xét tuyển vào ngành y thường cao một cách bất bình thường?

Nó là một cái khó của vấn đề nhân lực. Đại học y năm nào cũng 27-28 điểm, tôi thấy đó là một cái vô lý. Ngành y đòi hỏi sự thông minh là cần thiết nhưng nếu chúng ta mở rộng chỉ tiêu đào tạo thì chắc chắn sẽ không đến mức độ như vậy. Cách đây 2-3 năm thì bình quân mỗi năm có khoảng 3.500 bác sĩ ra trường trong khi đó lại có khoảng 3.000-4.000 bác sĩ về hưu, cho nên số người đào tạo ra lại bằng số người về hưu. Vì vậy không đáp ứng được nhu cầu dân số tăng, xã hội phát triển. Sau khi Quốc hội có nghị quyết đó thì năm 2008-2009 chỉ tiêu đào tạo bác sĩ bắt đầu tăng gấp rưỡi nhưng chúng tôi hi vọng trong tương lai phải tăng gấp 2-3 lần thì mới đủ bác sĩ như các nước.

Chân ngoài và chân trong

Việc cho phép các bác sĩ “làm việc ngoài giờ”, trong một thực trạng là đãi ngộ ngành y tế rất thấp liệu sẽ làm nảy sinh tình trạng “chân ngoài dài hơn chân trong”?Thưa ông?

Hiện nay, chúng tôi vừa chỉnh lý và hoàn chỉnh dự án luật này để chuẩn bị trình Quốc hội. Tôi  cũng xin nói rõ, đó là quan điểm của Đảng, Nhà nước không cấm  cán bộ y tế công chức, viên chức Nhà nước sau khi hoàn thành xong nhiệm vụ ở các cơ sở y tế công được phát huy chất xám, làm thêm, mở phòng khám ngoài giờ. Dự thảo Luật chỉ cấm cán bộ công chức, viên chức y tế tham gia thành lập quản lý điều hành các bệnh viện tư, các cơ sở y tế tư nhân hành nghề theo các mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Quy định này nhằm tận dụng được chất xám của các bác sĩ vốn đang thiếu. Đa số các ý kiến đại biểu Quốc hội cho rằng trong tình hình hiện nay chúng ta cho phép mở các phòng mạch nhỏ lẻ ngoài giờ và sẽ cấm khi chúng ta đủ cán bộ y tế nhà nước, khi nhà nước đảm bảo đãi ngộ khiến người cán bộ y tế dồn toàn tâm toàn lực cho Nhà nước không cần mở phòng mạch tư nữa.

Cách đây 2 năm, Giám đốc bệnh viện Chợ Rẫy có ra quy định riêng là cán bộ của bệnh viện không được làm tư nhân. Mặc dù, nghe có vẻ hơi trái về luật nhưng lại có cái lý của người ta. Đấy là quyền của người giám đốc đối với nhân viên. Còn trong luật khám chữa bệnh lần này cũng có quy định những vấn đề về y đức, trong đó có quy định là bác sĩ không được lợi dụng kê đơn để lấy hoa hồng, không được lợi dụng bệnh nhân để trục lợi cá nhân. Tuy nhiên để thực hiện được cái này rất là khó nhưng chúng ta không có cách nào khác mà buộc phải quy định vào trong luật.

Y tế Việt Nam, vừa chạy vừa xếp hàng

Sau khi có Nghị định 10  và Nghị định 43 giao quyền tự chủ cho các bệnh viện thì bắt đầu sinh ra tình trạng các cơ sở y tế của trung ương được đầu tư rất lớn về cơ sở chữa bệnh và “hút” nguồn nhân lực lớn về trung ương, thành phố. Trong khi đó y tế cơ sở đang ngày càng yếu đi?

Chúng ta thử xem xét cách đây hơn 10 năm và bây giờ thì kĩ thuật y tế của Việt Nam đã tiến bộ rất nhiều. Trong đó, các kĩ thuật hiện đại đó không phải do nhà nước đầu tư mà bằng con đường xã hội hóa y tế. Chúng ta thử đặt vấn đề nếu không có máy móc thì chúng ta sẽ phải chia đều nỗi khổ cho các tuyến trung ương và địa phương hay tạo điều kiện để các bệnh viện có điều kiện tiến lên và người dân được hưởng? Vấn đề đặt ra là y tế Việt Nam  hiện nay “vừa chạy vừa xếp hàng”. Cố gắng chạy nhanh để theo kịp với các nước phát triển trong khu vực, xếp hàng để cùng được hưởng. Chúng tôi nghĩ rằng định hướng trước mắt của chính phủ là sẽ quy định các bệnh viện  xã hội hóa tốt, có điều kiện thì hoàn toàn phải tự chủ. Nhà nước sẽ dồn tiền ngân sách đầu tư cho tỉnh, huyện để vực tỉnh và huyện lên về kĩ thuật chứ không đã đi sau lại còn lẽo đẽo thì rất khó khăn. Quốc hội thì thấy xã hội hóa có một lợi ích rất lớn. Ví dụ như thế này, nếu chúng ta dùng ngân sách để mua một cái máy có khi mất đến 1 tỉ nhưng nếu xã hội hóa huy động vốn thì chỉ hết 500-600 triệu, bị kiểm soát rất chặt vì từ tiền túi người ta bỏ ra nên không có chuyện tham ô hay tham nhũng. Vì vậy trong luật khám chữa bệnh sắp tới, Quốc hội cũng sẽ quy định cụ thể. Thứ nhất, các bệnh viên công phải là hoạt động phi lợi nhuận, có nghĩa hoạt động lấy công bù chi và lãi đầu tư để phát triển bệnh viên lên chứ không được chia cho cá nhân.  Còn tư nhân thì chúng ta không thể bắt buộc phi lợi nhuận. Nhưng Nhà nước cũng khuyến khích các bệnh viện tư nhân hoạt động theo hình thức phi lợi nhuận vì mục đích phát triển và nhân đạo.

Có một số ý kiến hiện nay cho rằng, ngành y tế của chúng ta quá nghiêng về hướng điều trị bệnh tật hơn là dự phòng. Ông nhận xét gì về vấn đề này?

Điều đó chính xác. Năm ngoái, khi Quốc hội giám sát tối cao về khám chữa bệnh đã ra một Nghi quyết về xã hội hóa. Trong đó, thứ nhất quy định rõ là tăng kinh phí cho y tế cao hơn so với các ngành khác. Có nghĩa là hàng năm chúng ta tăng chi cho xã hội là 10% thì y tế phải là hơn 10%. Thứ hai là dành ít nhất 30% ngân sách đó cho y tế dự phòng. Khâu dự phòng đang yếu. Dịch tả tại Hà Đông mới đây là một ví dụ. Đầu năm, Trung tâm y tế dự phòng xin tỉnh 5 tỉ đồng để đi kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa hạn chế dịch bệnh nhưng tỉnh (Hà Tây cũ) lại không cho. Đến khi dịch xảy ra thì tiền chi ra để dập tắt dịch gấp 3-4 lần. Đấy chính là một bài học về y tế dự phòng.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Đào Tuấn- Việt Thắng (thực hiện)

Tiến  sĩ  Nguyễn  Quang  A từng gọi các Doanh nghiệp Nhà nước là “Những đứa con hư”. Theo ông, chúng là “thủ phạm” chứ không phải là giải pháp của nền kinh tế. Chừng nào mà chưa kéo được cái vòi sữa bao cấp từ nhà nước ra thì chúng vẫn còn hư. Mời mọi người vào bình luận

(bài bị out)

Xét về nguồn lực mà các DN sử dụng, các Tập đoàn, Tổng công ty, gọi chung là công ty nhà nước, đứng ở vị trí số 1. Tuy nhiên, về hiệu quả mà chúng mang lại thì xếp hạng bét. Không thế lý giải bằng việc đổ lỗi cho khủng hoảng, cho “trách nhiệm xã hội”, vì như thế là ngụy biện. Tiến sĩ Nguyễn Quang A trả lời Đại Đoàn Kết xung quanh vấn đề hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước

Nguồi lực số 1, hiệu quả hạng bét

PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về hiệu quả của các Tập đoàn, TCTy Nhà nước đã tạo ra so với những lợi thế mà họ có?

–  TS. Nguyễn Quang  A: Tôi đã có nhiều bài phân tích về hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Nếu xếp hạng các doanh nghiệp theo 3 loại: nhà nước, đầu tư nước ngoài, tư nhân. Đánh giá chúng theo các tiêu chuẩn về nguồn lực mà chúng sử dụng (đất đai, tài nguyên, vốn đầu tư), thì doanh nghiệp nhà nước luôn ở vị trí số 1, tức là sử dụng nhiều nguồn lực nhất. Về thành tích (doanh thu, số lao động, lợi nhuận/vốn,…) các doanh nghiệp nhà nước lại luôn ở vị trí hạng “bét”.

Chỉ có 1 tiêu chí là “nộp ngân sách” thì ở vị trí thứ 2 hay thứ nhất, nhưng lưu ý rằng “nộp ngân sách” hoặc là doanh nghiệp nộp hộ người tiêu dùng (thí dụ, uống ly bia hơi 10 ngàn đồng thì người dân nộp khoảng 4,5 ngàn đồng thuế cho nhà nước, song công ty bia thu hộ và nhận “khoản thuế mà người dân đóng” là “khoản  nộp ngân sách” của mình) hoặc là một phần tiền bán tài nguyên của đất nước (dầu thô, than, khoáng sản). Khoản nộp thật của doanh nghiệp cho ngân sách là thuế thu nhập doanh nghiệp, đấy mới là số đo thành tích. Về tiêu chí này các doanh nghiệp nhà nước cũng đội sổ. Đấy là xếp hạng dựa vào số liệu chính thức của nhà nước do Tổng cục thống kê công bố. Tham khảo các bài viết của tôi thì thấy các con số do nhà nước công bố nói lên tất cả và phủ định một cách đầy thuyết phục ý kiến của một số người cho rằng chúng hoạt động hiệu quả.

Vậy, nếu hiệu quả tạo ra là chưa tương xứng với tiềm lực về vốn và các cơ chế cũng như chính sách hỗ trợ của nhà nước thì việc lý giải họ còn có trách nhiệm thực hiện, đôi khi không vì lợi nhuận, những chính sách an sinh xã hội có phải là cách trả lời thuyết phục cho việc thiếu hiệu quả?

– Đấy là một sự ngụy biện. Lẫn lộn trách nhiệm xã hội là vô tình hay cố ý “mập mờ đánh lận con đen”. Thực hiện chính sách xã hội, như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là việc các cơ quan bảo hiểm đó dùng tiền của chính những người đã đóng để chi cho chính họ (không phải tiền của nhà nước, càng không phải của doanh nghiệp); chi tiêu cho giáo dục là từ tiền thuế của mọi người hay tiền vay mà các thế hệ sau phải trả; chi cho xóa đói giảm nghèo hay các khoản chi khác cho sự nghiệp xã hội cũng vậy. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là hoạt động hiệu quả, tạo ra nhiều của cải, công ăn việc làm. Không thể bắt doanh nghiệp “giúp” địa phương khó mà viện vào đó để biện bạch rằng vì thế nên chúng có hiệu quả thấp. Đấy là sự đánh tráo khái niệm, lẫn lộn kinh doanh và công việc xã hội. Tất nhiên chúng ta hoan nghênh các doanh nghiệp làm từ thiện, song đó không thể là việc bắt buộc và không được phép “bắt” doanh nghiệp làm việc đó, rồi lại dùng việc ấy để biện bạch cho chúng là rất nguy hiểm. Tư duy phải rạch ròi, đừng lẫn cái này với cái nọ.

Thưa ông, tại kỳ họp QH tới đây, việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử  dụng  vốn tài sản Nhà nước tại  các tập đoàn, Tổng  Công  ty có nên truyền hình trực tiếp để nhân dân cùng biết?

– Nếu trực tiếp được thì tốt, song tôi nghĩ để cho nhân dân tiếp cận đến các phân tích khách quan, đến các tranh luận cởi mở thì tốt hơn. Truyền hình trực tiếp là tốt, nhưng cũng chỉ truyền đạt được một phần nhỏ. Quan trọng nhất là phải để cho các ý kiến khác nhau có thể được cất lên.

Càng cho chúng độc quyền, càng để chúng dựa dẫm, chúng càng thiếu hiệu quả

Nguyên nhân của việc thiếu hiệu quả, theo ông, là do cơ chế, do cách điều hành hay do công tác cán bộ?

– Tôi cho rằng, do cả 3 thứ, nhưng có lẽ chủ yếu là do 2 nguyên nhân mà tôi đã nhắc tới nhiều lần. Đó là thiếu cạnh tranh (nếu các doanh nghiệp phải cạnh tranh mạnh mẽ và lành mạnh trên thị trường trong nước và quốc tế, thì chúng buộc phải có hiệu quả vì khác đi thì bị loại khỏi thị trường). Đáng tiếc các doanh nghiệp nhà nước ít chịu áp lực cạnh tranh do nhiều doanh nghiệp có thể ỷ vào thế độc quyền hay gần như độc quyền. Thứ  hai, sự ràng buộc ngân sách của chúng là mềm; nôm na điều này có nghĩa là các điều kiện bên ngoài (chủ yếu do nhà nước tạo ra) làm cho chúng cảm thấy chúng thường có thể vòi vĩnh, xin nguồn lực (vốn, tín dụng), khi gặp khó khăn thì có thể xin hỗ trợ (cứu khỏi phá sản, khoanh nợ,…), đằng nào nhà nước cũng sẽ cứu,…. Nếu không có điều kiện bên ngoài đó (tức là phải tự mình xoay xở, và không ai cứu khi khó), không thể dựa dẫm, vòi vĩnh…, thì ràng buộc ngân sách là cứng. Ràng buộc ngân sách của các doanh nghiệp tư nhân thường  cứng, còn của các doanh nghiệp nhà nước thường là mềm. Lưu ý rằng ràng buộc ngân sách cứng không có nghĩa là trong khủng hoảng chính phủ không cứu trợ doanh nghiệp. Khủng hoảng là sự kiện bất bình thường, ràng buộc ngân sách cứng hay mềm ám chỉ môi trường thường xuyên tạo ra cảm nhận hay kỉ luật tài chính cứng hay mềm.

Tạo môi trường buộc chúng phải cạnh tranh, siết chặt ràng buộc ngân sách của chúng đấy là cách cơ bản để cho các doanh nghiệp (nhà nước hay tư nhân) hoạt động hiệu quả.

Không nên tạo ra một “sân chơi riêng”

Vừa rồi báo chí có nói đến Vinashin với những con tàu cũ mua với giá quá đắt mà lại không có hiệu quả kinh tế, thậm chí cả chuyện Vinashin nợ và mất khả năng trả nợ 750 triệu USD. Đây là trường hợp cá biệt hay là tình trạng chung của các Tập đoàn, TCTy?

– Tôi không rõ lắm, nhưng tôi nghĩ chắc không phải là trường hợp đặc biệt.

Ông đánh giá thế nào về lý do “Do tác động của khủng hoảng và suy giảm kinh tế” mà Vinashin đưa ra? Liệu lý do này có thể trở thành cứu cánh cho việc làm sử dụng không có hiệu quả, làm mất vốn của nhà nước của các Tập đoàn, TCy nói chung?

Chắc chắn đó là một trong các lí do, song tôi e chưa hẳn đã là lí do chính. Lí do chính tôi đã nêu ở trên.

Xin ông bình luận về sự đa ngành và việc đầu tư ra ngoài ngành của các Tập đoàn, TCy. Đây có phải là một trong những lý do khiến các doanh  nghiệp được coi là lớn này hoạt động không có hiệu quả? Và việc đầu tư ngoài ngành của họ liệu có ảnh hưởng đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác.

– Các tập đoàn phải tập trung vào lĩnh vực chính của mình thì mới phát huy được lợi thế do quy mô. Đầu tư ra ngoài là cách làm “ăn xổi ở thì”. Tất nhiên nó sẽ có tác động lấn át các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ. Lẽ ra nó phải tạo ra các mạng lưới để cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia và hợp tác (xen vào chuỗi giá trị của chúng), đáng tiếc tôi chưa thấy tập đoàn nào làm được việc này, mà chỉ thấy các công ty gia đình, công ty sân sau mà thôi.

Nghị  định  về quản lý Tập  đoàn  kinh tế Nhà  nước  đang  được  soạn  thảo và  lấy ý  kiến. Theo ông, Nghị định này cần quy định thế nào thì phù hợp với tình hình các Tập đoàn, TCTy hiện nay?

– Với tư cách chủ sở hữu, nhà nước có thể ra quy chế chung cho các công ty mà mình sở hữu. Nếu chỉ ở phạm vi như thế thì tôi ủng hộ nghị định, còn nếu muốn tạo ra cho chúng một sân chơi riêng gây hại đến các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác thì rất nguy hiểm và tôi hoàn toàn phản đối.

Xin  cám ơn  ông!

Đào Tuấn vs Hương Thủy (thực hiện)